Tháng Tư 15, 2008
Những chiếc vòng phủ chụp Bắc Kinh 2008
Tháng Hai 23, 2008
Trò phù phép đánh tráo
Hoàng Cúc
Kể từ sau ngày 18-12-2007, khi người Việt trong nước và hải ngoại xôn xao về vụ Toà Khâm sứ cũ, trên một số trang điện tử, xuất hiện dư luận cho rằng Phật giáo mới là sở hữu chủ thực sự của mảnh đất vốn từng là Toà Khâm sứ. Đặc biệt, trang điện tử Chuyển Luân và Giao Điểm còn đưa ra cả những bằng chứng có vẻ lịch sử về chuyện này. Tuy nhiên, người có chút kiến thức lịch sử sẽ dễ dàng nhận ra trò nguỵ trang vụng về trong các bài viết của họ.
Bài viết của phật tử Nguyễn Quốc Dũng, nhan đề “Tâm thư gửi đồng bào Công giáo đang “cầu nguyện” đăng trên Giao Điểm online có đoạn về chùa và tháp Báo Thiên như sau: “Thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep, tức Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay.” [1]
Xét về mặt lịch sử, về toà tháp Báo Thiên ngày nào, hai danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn Án (1770-1815) đã viết như sau trong sách Tang thương ngẫu lục [2]: “Cây Tháp Đại thắng Tư thiên tại chùa Báo Thiên dựng từ đời vua Lý Thái Tông (1054-1072). Tháp này xây 12 tầng, cao mấy chục trượng… Khoảng năm Tuyên Đức nhà Minh, Đức Thái tổ Hoàng đế tiên triều [Lê Lợi] tiến binh vây Đông Đô. Viên quan giữ thành là Thành Sơn hầu Vương Thông phá hủy cây tháp [lấy vật liệu] chế ra súng đồng để giữ thành [1414]. Tiên triều nhân nền cũ, đắp các núi đất phủ lên trên… Năm Giáp Dần [1791] lại cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long. Khi phá nền tháp thấy có tám pho tượng Kim Cương chia ra đứng bốn cửa, ngoài ra còn có tượng người tiên, chim muông, cả đến những giường ghế, chén bát, các thứ lặt vặt khác không kể xiết, toàn bằng đá.” [3]
Cũng phải nói thêm rằng bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc tới việc tháp Báo Thiên bị đổ vào năm Đinh Mùi, niên hiệu Nguyên Hoà thứ 15 (1547) và lần cuối cùng bộ sách này nhắc đến chùa Báo Thiên là năm Quí Hợi, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5 (1623). Theo chúng tôi, tài liệu về tháp Báo Thiên trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án là đáng tin cậy, thứ nhất vì Phạm Đình Hổ đã sống một thời gian khá dài bên hồ Hoàn Kiếm, ở một vị trí chỉ cách khu vực tháp Báo Thiên cũ khoảng vài trăm mét; thứ hai, ông sống đúng vào thời điểm năm Giáp Dần (1794) khi triều đình “cho đào lấy những gạch đá ở nền tháp cũ để tu bổ thành lũy Thăng Long” . Như vậy, có thể nói rằng khi khởi công xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội, tức là khoảng những năm 1882-1884, toà tháp Báo Thiên đã bị đào tận móng được gần 100 năm. Phật tử Nguyễn Quốc Dũng đã nói “thực dân Pháp, dưới sự tiếp tay của tín hữu Ki-tô giáo đã tịch thu đất, cho phá Tháp và Chùa” . Tội danh “phá Tháp” của thực dân Pháp và người Công giáo đã bị Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ phủ nhận với tư liệu lịch sử khá rõ ràng. Đối với tội danh “tịch thu đất” và “phá chùa” , tôi rất mong Phật tử Nguyễn Quốc Dũng đưa ra những chứng cứ lịch sử xác thực để chứng minh cho ý kiến của mình. Tôi không đồng ý với những lối suy luận thiên kiến và nặng về tình cảm, không dựa trên những tài liệu xác thực có thể được kiểm chứng. Từ mấy ngày nay, trên talawas, Lê Điều đã đưa ra một số tư liệu liên quan đến chuyện này, tôi rất mong giới chuyên môn vào cuộc để phân tích và thẩm định những tư liệu đó.
Bài viết nhan đề “Truyền thông Công giáo trong vấn đề ‘toà nhà Khâm sứ” [4] đăng trên trang Chuyển Luân của tác giả Trần Đình Hoàng mang đầy tính hằn học với Công giáo. Người ta không khó nhận ra quan điểm của ai bàng bạc trong bài viết này. Vì thế tôi sẽ không mất thì giờ bàn luận về bài viết mà chỉ nhận xét về hai tấm ảnh đăng kèm.
Tấm ảnh Nhà thờ Lớn Hà Nội thì hẳn là ai cũng biết rồi. Bên cạnh đó là ảnh một ngôi chùa khá đẹp với dòng chữ khá lớn ở dưới HÀ NỘI: TỪ CHÙA BÁO THIÊN TỚI NHÀ THỜ LỚN. Độc giả có chút công tâm sẽ không khỏi đau lòng khi một ngôi chùa đẹp như thế đã bị phá bỏ. Việc đặt hai tấm hình đó bên cạnh nhau trong một bài viết bàn về một vấn đề thời sự là việc giáo dân cầu nguyện tại Toà Khâm sứ cũ, thêm vào một dòng chữ lớn như trên sẽ khiến độc giả hiểu rằng ngôi chùa trong ảnh đã bị phá đi để xây dựng Nhà thờ Lớn Hà Nội. Nếu sự thật lịch sử đã xảy ra như thế, đồng bào theo Phật giáo hẳn có lí do chính đáng để nổi giận và bất bình. Tuy nhiên, trò tráo trở nằm chính trong hai bức ảnh đó.

Không cần đọc mấy dòng chữ nhỏ bên dưới tấm ảnh ngôi chùa, người có chút kiến thức lịch sử về Hà Nội sẽ nhận ra ngay đó là tấm ảnh chùa Báo Ân, tên chữ là Liên Trì, còn được gọi là chùa Quan Thượng. Ngôi chùa này đã bị người Pháp phá huỷ năm 1892 để xây dựng Nhà Bưu điện. Như vậy, vị trí chính xác của ngôi chùa trong ảnh chính là Nhà Bưu điện Trung tâm ngay bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Du khách tới Hà Nội ngày nay vẫn còn thấy một toà tháp nhỏ không xa bờ hồ ở ngay phía trước Nhà Bưu điện Trung tâm, đó chính là vết tích còn lại của chùa Báo Ân thủa trước.
Tại sao lại có chuyện phù phép đánh tráo trên đây? Phải chăng nhằm gây chia rẽ giữa Công giáo và Phật giáo? Trong hoàn cảnh hiện nay, việc chia rẽ ấy nhằm mục đích gì? Độc giả hẳn có thể tự tìm ra câu trả lời.
Theo chiều hướng khác, tôi tự hỏi bằng phép liên hệ nào tác giả đã đặt tấm ảnh chùa Báo Ân bên cạnh Nhà thờ Lớn Hà Nội? Bằng mối liên kết với những gì xảy ra gần Nhà thờ Lớn Hà Nội trong hơn một tháng qua, tôi lại buộc phải tự hỏi mình rằng phải chăng tác giả bài viết đang chuẩn bị cho một chiến dịch cầu nguyện của giới Phật tử trước Nhà Bưu điện Trung tâm? Thời gian sẽ giúp chúng ta có câu trả lời cho câu hỏi đó, ấy là chưa tính đến chuyện ai có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lí, ai là người có quyền đại diện hợp pháp để đứng ra làm chuyện này.
Vậy, nếu cần phải có một tên gọi cho trò đánh tráo lưu manh kể trên, tôi nghĩ có thể dùng từ “quấy rối”, và bàn tay nào nằm ở phía sau trò bung xung này, tôi tin rằng độc giả có đủ khả năng nhận diện.
Hoàng Cúc
Chú thích:
[1] Giao Điểm online ngày 18/1/2008, đường link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1951, truy cập ngày 30-1-2008.
[2]Độc giả có thể tìm đọc nguyên văn chữ Hán của sách này tại Viện nghiên cứu Hán Nôm theo những mã số sau đây: VHv. 1798; VHv. 1413; hoặc Paris. SA. HM. 2205; MF/1343 (A. 218); Paris. EFEO. MF. 11/5/1755 (A. 218).
[3]Trích theo Tháp Báo Thiên trong trang điện tử http://vi.wikipedia.org/wiki/, truy cập ngày 31-1-2008. Thực ra, trong thế kỉ 18 có hai năm Giáp Dần là những năm 1734 và 1794. Theo chúng tôi, những năm dương lịch ghi trong ngoặc vuông là do dịch giả thêm vào, và do sự lầm lẫn nào đó mà năm Giáp Dần 1794 đã trở thành 1791. Tôi cũng đã đối chiếu đoạn văn trên đây với bản dịch cuốn Tang thương ngẫu lục của Trúc Khê do Trương Chính giới thiệu, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1972, trang 151, cũng vẫn thấy ghi năm Giáp Dần 1791. Như vậy lỗi này đã xuất hiện từ bản dịch năm 1972.
[4]Đường link: http://www.chuyenluan.net/200802/0801_01.htm, truy cập ngày 30-1-2008.
(Nguồn: Talawas)
Tháng Hai 19, 2008
Mùa Đông Qua Rồi
Từ Nguyên Thạch
Mùa Đông qua rồi, tôi đem phơi phóng
Những chăn màn quần áo mốc meo
Chợt nhận ra trong trái tim, hình bóng
em vẫn ở bên tôi giữa ngày tháng gieo neo
Mùa Đông qua rồi, tôi gom hết lá
Đem đốt đi những khô héo trong hồn
Sợi khói cay có làm tôi rơi nước mắt
Để cái nhìn tôi được xanh hơn
Mùa Đông qua rồi, tôi đi phát cỏ
Trồng thêm những luống bắp, luống cà
Những khóm hoa làm niềm vui nho nhỏ
Để vườn tôi bớt trồng trải, bao la
Mùa Đông qua rồi, tôi ngồi soạn lại
Những lá thư trong ngăn kéo cuộc đời
Những gương mặt người thân như hoa trái
Trên cây đời tôi còn lắm xanh tươi
Mùa Đông qua rồi, tôi đem phủi bụi
Sửa soạn hành trang cho một chuyến đi dài
Đã bao lần tôi và em trì hoãn
Chuyến tốc hành đến cuộc sống ngày mai.
Từ Nguyên Thạch
Tháng Hai 19, 2008
Khát vọng Dân chủ
Du Lam
Cụ Hoàng Minh Chính & Dân biểu Ed Royce
Con người sống được tới như cụ Hoàng Minh Chính đã là “thọ”. Nhân sinh thất thập cổ lai hy, thì cụ trên ngưỡng cổ lai hy tới 17 năm. Mười bảy năm với đời một con người cũng là một thời gian tương đối có thể được nhiều việc. Như tạo dựng một sự nghiệp,hay hoàn tất một học hàm, học vị. Nhưng mười bảy năm, với lịch sử một dân tộc thì quá ngắn.Tám mươi bảy năm cuộc đời của cụ, chưa đạt được trọn vẹn một khát vọng Dân chủ, cho cả bản thân mình lẫn đích đến của một dân tộc như cụ hằng mong muốn. Ngày Mùng một tết năm Mậu Tý, cụ đã ra đi từ giả cõi đời nầy vốn còn nhiều những ngổn ngang,lực lượng dân chủ vẫn còn bị đàn áp thô bạo của nhà cầm quyền, dù tầng lớp thống trị cao cấp vẫn luôn mồm cổ vũ rằng” xây dựng môt nước Việt nam công bằng, dân chủ, văn minh”.
Một con người suốt đời vì dân vì nước ra đi về cõi vĩnh hằng như cụ có lẽ cũng không tủi thẹn hay bận lòng, dù con đường cụ đi còn dang dỡ. So với sự mờ mịt những năm về trước thì hiện tại,cụ có thể an tâm rằng đã có, có nhiều những người trẻ, đủ mọi thành phần tiếp bước cụ để hoàn tất những ước muốn của cụ dù còn lắm chông gai.
Từ những năm tháng còn trẻ, cụ đã từng tham gia nhiều hoạt động nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, như Đoàn thanh niên phản đế.Dù những tổ chức nầy được đảng công sản lãnh đạo. Nhưng ngọn cờ khi ấy và cho mãi tới năm 1975 chính là “ cuộc cách mạng Dân tộc, Dân chủ Nhân dân”. Từ một đất nước có lịch sử gắn liền với chiến tranh, một ngàn năm đô hộ giặc Tàu,một trăm năm giặc Tây,hai mươi năm chiến cuộc tới từng ngày giữa Nam và Bắc của cùng một dân tộc, một lãnh thổ, chỉ khác nhau ý thức hệ, mà ý thức hệ du nhập bỡi ngoại bang.Ngọn cờ Dân tộc Dân chủ Nhân dân ai mà không thích khi cả một dân tộc triền miên binh lửa, thay nhau dày xéo hết xâm lược nầy tới ngoại bang khác. Phải chăng lá bài nầy khéo dùng để che đậy cho một thực tế khác, đã vận động được một cuộc “ chiến tranh nhân dân” rồi sau đó, chính những con người cầm súng kháng chiến ấy, với thôi thúc của một trái tim nồng ấm, vì dân, vì nước, đã không cam lòng tiếp tục khi biết mình bị” lừa” . Phải quay lại thôi,khi biết con đường chọn dấn thân không phải con đường người khác đang dẫn dắt. Quay lại thì phải nhận lấy một hậu quả, sự teo tóp của quả chanh bị vắt hết nước,và còn muốn quả chanh ấy không hề tồn tại trên đời, tránh phơi bày cho mai sau một thực tế phủ phàng nhân danh chủ nghĩa.Những Quang Dũng, Hữu Loan, Trần Dần,Trần Độ và Hoàng Minh Chính…họ đều là những công thần. Nhưng họ cũng là những cái gai,những người tù của chính chủ nghĩa đã chọn, khi chiếc áo “Dân tộc, Dân chủ nhân dân” bị sờn vai rách gấu. Thay vào đó bằng chiếc áo khác không có Dân tộc, thiếu vắng Dân chủ,Nhân dân thì mờ nhạt và là một loại tồn tại để cung phụng cho những sở thích đôi khi lạ lẫm.
Có người từng nói rằng: Khi nào một nước cộng sản đánh nhau với một nước không cộng sản, thì thứ triệt để được huy động đó là tinh thần dân tộc. Nhưng khi hai nước cộng sản với nhau tranh giành thì cái”tinh thần dân tộc” đựơc đôi bên mang ra xỉ mạ nhau.Điều đó không ít lần diễn ra với đất nước chúng ta.Tinh thần dân tộc được réo gọi suốt từ chống Tàu, chống Pháp, rồi…chống Mỹ. Nhưng tháng 2 năm 1979 thì bọn Bành trướng bá quyền Bắc kinh và Tiểu bá Việt nam. Gần đây nhất,vụ Hoàng-Trường sa, trong chuyến đi “sứ” của phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm, được thủ tướng Tàu Ôn Gia Bảo ân cần” nhắc nhỡ” rằng” Phải ngăn chặn sự trào ra của tinh thần dân tộc”. Ôi! Tội nghiệp cho hai chữ Dân tộc, tốt cũng mi mà xấu cũng là mi.
Dù như thế, những con người như Hoàng Minh Chính vẫn kiên gan bền chí, đấu tranh gần như cả cuộc đời cho tới ngày hấp hối. Nằm trên giường bệnh, chặn ống thở lại để dặn dò con cái rằng: Có tổ quốc thì mới có gia đình…câu nói ấy gói ghém sự tối thượng của tổ quốc và dân tộc trên tất thảy mọi điều. Ấy thế mà trong vị trí bàn luận của đại diện quốc gia, về vấn đề Lãnh thổ và Dân tộc . Câu nói” ngăn chặn sư trào ra của tinh thần dân tộc” như kết luận cho làn sóng sinh viên biểu tình yêu nước bị chặn lại, dẹp tan bằng mọi thứ biện pháp có được.Trong các thứ biện pháp thực hiện thì” CẤM” là thứ dễ thực hiện nhất.
Nhưng,điều làm cho những người có tấm lòng vì dân, vì nước cảm thấy nồng ấm cũng từ lễ tiễn biệt cụ Hoàng Minh Chính trước lúc vào đài hóa thân.Từ Sài gòn,Hòa thượng Thích Không Tánh, ông Trần Khuê, ông Phương Nam Đỗ Nam Hải quyết dự tang lễ trong sự gàn trỡ của bàn tay nhà cầm quyền. Chỉ một Hòa thượng Thích Không Tánh đã tìm con đường khác thì đi được trong tư thế” trốn”.Phải” trốn” để đi làm nhiệm vụ một nhà sư với một phật tử trong cái” Nghĩa tử là nghĩa tận”.Trên đường đi bán công khai ấy, hòa thượng bị xét hỏi tại miền Trung, thu Chứng minh nhân dân,nhưng lại được tháp tùng với một nhà sư khác nữa. Hai vị đã có măt tại tang lễ và làm tròn Phật sự với phật tử Chân Tâm.
Từ Lạng sơn,ông Vi Đức Hồi cũng “trốn “từ đêm trước, mấy ngày trước đó ông Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hải phòng cũng tìm cách trốn trong lời nhắc khéo cho một Lưu Quang Vũ thứ hai, hay là thứ bao nhiêu thì không ai biết được. Những người khác chung quanh Hà nội thì được “chăm sóc cẩn thận”, sợ ra khỏi nhà trong cơn giá rét của đất trời “trái nết”bằng cách chặn cửa.Thế nhưng có tới hằng trăm người đã hiện diện đễ viếng tang đủ mọi thành phần, cả những người dân oan, năm tháng cuộc đời lăn lóc nơi vườn hoa Mai Xuân Thưởng. Tất cả họ tìm cách tới nơi nầy, trái ngược hẳn với đám ma của môt ông lớn nào đó thậm chí cử Quốc tang,là biết trước sẽ rất nhiều bất trắc, rất nhiều những nguy hiểm cho chính họ. Nhưng trước cuộc đời một con người vì những người như họ mà hy sinh như cụ Hoàng Minh Chính họ dám làm, và hoàn toàn bằng tấm lòng thật.Khác với sự phô trương, chường mặt để mưu cầu danh lợi ở những đám tang bề thế “danh gia vọng tộc”.
Sự kiên quyết của tang gia trong việc” chủ lễ” cũng là một việc đáng kính trọng, khí tiết của cụ không uổng khi san sẽ cho thế hệ con cháu, trước sự cố giành lấy của một vài đại diện nhà cầm quyền tổ chức lễ tang.
Cụ Chính ra đi,người anh cả của phong trào Dân chủ Việt nam không còn nữa. Trớ trêu thay,hai thế lực giành nhau chỉ duy nhất một thứ “ Xây dựng một xã hội Công bằng, Dân chủ Văn minh”vậy mà súng đạn và quyền lực tạm thời đang thắng chân lý, tới chỗ bỏ tù nhau nhiều năm trời, rồi “tặng” cả mắm tôm. Cụ ra đi,là mất mát to lớn cho gia đình, cho phong trào dân chủ Việt nam, cho cả dân tộc đang khát vọng dân chủ thực sự. Nhưng cũng là sự khẳng định, khi hiện tại, nếu người chết có một linh hồn, một kiếp khác thì cụ sẽ mừng vui khi có khá nhiều người dám chấp nhận những khó khăn tới với cụ, cũng là tiếp nối con đường của cụ. Khác với những năm tháng xưa kia, việc của cụ làm chỉ vợ, con, cháu cụ biết, họa hoằn thêm một ít thân hữu, biết nhau trong chùng chùng lén lén. Thời điểm nầy đây, cụ ra đi, những người dấn thân đã công khai đi giữa lòng Hà nội, dù chung quanh khá nhiều những bẫy rập. Mừng hơn nữa, một số người yêu chuộng dân chủ, nhân quyền của thế giới loài người dù khác màu da đã bày tỏ chia sẽ với cụ cùng những người đang sống bằng trái tim cảm thông sâu sắc của con người.Hẳn rằng, những lời ấy, những bức điện ấy khác với những thứ chiếu lệ phải làm với những đám tang quyền thế mà rỗng tuếch.Phải chăng tạo hóa luôn công bằng, sự bù trừ nầy là một minh chứng chân lý luôn có ánh hào quang riêng dù không thắp bằng dòng điện cực mạnh chỉ lóa mắt trong chốc lát rồi tắt lịm khi cạn nguồn.Chết, chưa cũng là không phải hết. Mà có khi lại là sống vĩnh cữu khi mang theo một chân lý vĩnh hằng.Khát vọng của cụ rồi phải có một ngày thành hiện thực trên đất nước Việt nam, vì Khát vọng dân chủ là khát vọng của bất cứ ai sinh ra làm kiếp con người, trong đó có Dân tộc Việt.
Du Lam
Tháng Hai 19, 2008
Thế Trận Dân Chủ Năm 2008
Nguyễn Phương Anh
Năm 2008 này sẽ là một năm đánh dấu sự thành công bước đầu của phong trào dân chủ trong nước, ước mơ đấu tranh cho việc hình thành một xã hội đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập đã sắp sửa thành công, chắc chắn rằng trong năm nay chính chính quyền độc tài cộng sản sẽ phải tiếp xúc bán chính thức với các đại diện của phong trào đấu tranh dân chủ để dần đi đến một lộ trình dân chủ hóa đất nước. Những sự việc khách quan hay chủ quan được dẫn chứng sẽ nói lên những khía cạnh khả tất của sự việc này.
Trong hàng chục năm qua những tầng lớp trí thức luôn luôn là người đi đầu trong trận tuyến dân chủ hóa đất nước với sự hỗ trợ khi công khai, khi ngấm ngầm của đông đảo người dân nhưng do hoàn cảnh khó khăn trong khi chính quyền đang dùng một nhà nước chuyên chính vô sản sắt máu và bế quan tỏa cảng với các nước dân chủ khác nên nội lực và sự ủng hộ của thế giới chưa đủ để bắt đầu hình thành các lực lượng đối lập thực sự. Năm 2008 này đã khác hẳn, việc gia nhập WTO, làm ủy viên không thường trực liên hiệp quốc…đã làm cho Việt nam hội nhập dần với thế giới tự do- dân chủ rộng lớn mà luật chơi chung nhất là các giá trị đích thực của con người.
Những nguyên nhân chủ quan trong nước mà hiện nay bắt buộc chính phủ độc tài cộng sản phải tính đến :
- Lực lượng công nhân : với mức lương tối thiểu quy định thấp và lương thực tế sau khi làm tăng giờ quá thấp từ 540 – 800.000 đồng/ tháng, giá cả leo thang chóng măt, lạm phát lên đến 12,6% trong năm qua đã làm cho đời sống công nhân cực kỳ bất lợi hay nói cách khác là họ sống không ra sống, sống không khác gì Culi thời kỳ Pháp thuộc. Trong khi công nhân biểu tình đòi hỏi phải được đối xử công bằng thì nhà nước lại ra Nghị định bắt buộc bồi hoàn thiệt hại khi đình công trái phép – nghị định đưa ra mang tính chất ép buộc công nhân nghèo lệ thuộc vào ý chí chủ quan của chính quyền, ý chí độc tài của tầng lớp lãnh đạo…Nghị định đi theo đuôi sự việc nhưng lại không nhằm giải quyết được sự bất công tràn lan mà chỉ nhằm gây sức ép để bắt giữ các lãnh đạo công nhân đình công nên sẽ vấp phải phản kháng lớn hơn, vì sự thật nó chỉ mang tính chất răn đe và dùng để kết tội một số lãnh đạo công nhân nhưng hãy nhớ là hàng trăm ngàn người công nhân đó họ giống nhau ở chỗ – không thể chấp nhận được mức sống đó, do vậy bắt người này thì người khác sẽ lại tiếp tục công việc dang dở, đảng cộng sản sẽ phải bó tay trước hành động của “dạ dày” người công nhân, sự chụp mũ về chính trị để gây sợ hãi là không thành công vì chính công nhân cũng hiểu họ không trực diện đấu tranh chính trị với đảng cộng sản vì đảng không là người trả lương cho họ, không phải là bên thứ hai trong cuộc tranh chấp này, sự việc đình công mà nhà nước nói là trái phép hay tự phát chính là sự nổi dậy của công nhân để tự lập các nhóm hay công đoàn tự do, tự đứng ra giải quyết công việc của mình mà không cần công đoàn quốc doanh – đấy chính là sự phát triển các đoàn thể trong phong trào dân chủ hóa đất nước. Bài toán để cho lực lượng công nhân ấm no, hạnh phúc là không thể giải được trong chế độ độc tài hiện nay.
- Nông dân : với 2,5 triệu nông dân bị ảnh hưởng cuộc sống do thu hồi đất đai quy hoạch, đền bù không thỏa đáng, đàn áp, đánh đập, đốt phá… gây nên sự căm phẫn trong xã hội và chính nhu cầu đoàn kết đã làm phát sinh các đoàn thể tự phát dân oan liên tục phát triển nhanh và đã hoàn toàn nằm ngoài vòng kiểm soát của chính quyền, việc này đã dẫn đến hàng trăm vụ án xét xử bắt tù những nông dân đòi đất, sự việc đã dồn nén sức chịu đựng của nông dân và gia đình đến mức thâm thù các cấp chính quyền. Phân hóa giầu nghèo ngày càng nghiêm trọng – các báo cáo về mức tăng trưởng GDP hằng năm của từng địa phương và của cả nước cũng chỉ là những con số bình quân, và nhiều khi là kết quả bình quân của người ăn nguyên con gà và của người chỉ được đứng nhìn, và tệ hơn nữa người dân (người nhìn) còn nói rằng bọn ăn nguyên con gà đó – là con gà của chính họ tạo ra, phân hóa còn thể hiện ở chỗ có những người nhập xe ô tô sang hàng vài chục tỷ đồng còn hàng ngàn người đi bán thận, hàng trăm ngàn gia đình nông dân khác phải dứt lòng cho con gái đi làm vợ người ngoại quốc nhằm mục đích thoát nghèo, chính ông Cao Đức Phát, người đứng đầu ngành nông nghiệp – phát triển nông thôn, cho biết hiện hàng trăm ngàn người dân quanh năm vẫn còn thiếu cả cái ăn.
Vừa rồi các trận lũ lụt liên miên, rồi trận rét lịch sử hiếm thấy trong mấy chục năm, bệnh rầy nâu bùng phát, bệnh H5N1 đang tái phát…đã làm “bần cố nông” mạnh thêm người dân vốn đã quá khó khăn. Sự mất mát của cải, con người, sức lao động do tai nạn giao thông, bệnh ung thư và nhiều thứ bệnh trầm kha khác đã đẩy hàng trăm ngàn gia đình vào hoàn cảnh khốn cùng do mất sức lao động, do phải mất quá nhiều tiền mua thuốc điều trị – hàng ngày ở ngay bệnh viện K ở Hà nội vẫn có khoảng 7.000 người lê la chữa bệnh …trong khi các phúc lợi an sinh xã hội lại dần bị thu hẹp dưới cái tên mỹ miều : xã hội hóa y tế. Tổng hợp các sự kiện nên trên thì người dân cảm thấy quá chán nản với chế độ và không còn tin vào sự lãnh đạo của đảng cộng sản nữa và họ đã hoàn toàn sẵn sàng gia nhập hay hỗ trợ một đảng mới mà lý do có khi là rất đơn giản là đảng đó trước mắt chỉ cần có đa số những người xuất thân như họ, bị hoàn cảnh giống họ…để hiểu được nguyện vọng của họ, để theo đuổi cái mới tốt đẹp hơn, có cạnh tranh chính trị để giám sát lẫn nhau, chống tham nhũng, lãng phí.
- Lực lượng học sinh, sinh viên :
Đa phần số họ sinh, sinh viên đều xuất thân từ gia đình nghèo, chịu kham khổ khi đi học vì tiền sinh hoạt, tiều thuê nhà tăng như vũ bão và bây giờ đang chịu thêm việc tăng học phí. Sự tác động của việc tăng học phí đến tầng lớp này đã làm cho xã hội sôi sục và điển hình là việc không đồng ý với mức tăng học phí mà BGH Trường THPT Dân lập Sào Nam (Nam Đàn – Nghệ An) đưa ra, đầu giờ học sáng 9/1/2008, nhiều học sinh đã đồng loạt “bãi khoá”, gây náo loạn trong một khoảng thời gian ngắn. Sự việc này làm ta liên tưởng đến ngày 9/1 ngày anh Trần Văn Ơn hi sinh trong cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên Sài gòn và ngày 9/1 đã được lấy làm ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt nam – vậy, có ai còn cố nói rằng học sinh không biết làm chính trị ?. Để giảm bớt sự chống đối của học sinh, sinh viên và phụ huynh nhà nước đã dùng phép mị dân như sau : Theo chỉ đạo của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, để có nguồn vốn cho học sinh, sinh viên vay học kỳ 2 năm học 2007-2008, đầu tháng 2 này, Kho bạc Nhà nước chuyển 1.000 tỷ đồng tiền nhàn rỗi cho Ngân hàng Chính sách Xã hội. Nhưng rõ ràng số tiền trên và trước đó hay sau này đâu phải là tiền nhàn rỗi – mục đích chính của việc cho vay là dùng để nộp học phí, và sau đó nó lại quay về ngân sách theo một cách gián tiếp. Tiền nhàn rỗi thực tế đâu có : hãy xem Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành quyết định phát hành 20.300 tỉ đồng tín phiếu NHNN bằng đồng Việt Nam với kỳ hạn 364 ngày, lãi suất 7,8%/năm; dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Vừa rồi số sinh viên vay vốn là hơn 600.000 người, nhưng một đa phần họ không nộp tiền học phí vì phản đối chuyện tăng học phí – học biết rằng tiền vay đó chỉ làm ấm tay họ thôi còn sau đó nó lại trở về nơi cũ mà án nợ thì vẫn treo, do vậy không nộp hay dùng làm việc khác còn lợi hơn, họ biết nhà nước giả vờ mị dân cho vay để nộp học phí làm giảm nhiệt do bức xúc của sinh viên học sinh và gia đình, có thể sau đây 1 hoặc 2 năm họ sẽ ngưng chương trình này khi toàn bộ xã hội đã coi việc tăng là tất nhiên rồi , và nếu bất quá khi bị phản đối mạnh khi đó họ sẽ không đòi lại số cho vay đó nữa – thực chất với việc tạm hoãn tăng học phí 2 năm, nhưng bù lại sẽ được tiếng là chế độ vì dân – sự xảo trá được tính kỹ đến từng hành vi nhỏ. Nhưng học sinh, sinh viên và phụ huynh đâu có khờ – họ cứ vay nhưng không đóng học và dùng làm việc khác cho bõ ghét – một sự phản kháng tập thể đang bắt đầu và lan truyền như nó vốn phải thế mà không cần phải tuyên truyền, giác ngộ gì hết. Sự phản kháng đối với các môn học giáo điều, kệch kỡm của học sinh , sinh viên đã làm thay đổi trong năm 2007 : các môn học về Mác-lê, đảng… đã phải cho thi theo kiểu giở sách trong phòng thi, một kiểu học cho nó có mà thôi.
Hàng chục ngàn du học sinh Việt nam trở về nước cũng đã đem theo lý tưởng về một xã hội dân chủ mà họ được tận mắt thấy tai nghe khi học tập, những hạt nhân này đang càng ngày chứng tỏ sự năng động trong phong trào và họ sẽ là lực lượng không gì nhuộm “đỏ” đầu họ bằng các lý thuyết cũ rích, lạc hậu.
Sự việc lớn khác là sinh viên, học sinh cũng đã có bước ngoặt trong sự việc lên tiếng với vận mệnh đất nước trong các cuộc biểu tình thể hiện lòng yêu nước đối với sự xâm lấn lãnh thổ nước ta của Trung quốc, trong sự việc trên hàng trăm ngàn trong số họ đã hiểu thêm về các công hàm bán nước của chính quyền trong thời gian 1958, sự bưng bít thông tin trong các hiệp ước về biên giới, lãnh hải…Tuy bị ngăn cấm, xét hỏi, dọa nạt…nhưng họ không sợ sệt và trong số họ đã nẩy sinh nhiều tấm lòng thiết tha và nguyện dấn thân cho dân chủ hóa đất nước.
- Lực lượng xuất khẩu lao động :
Lực lượng này có thể sẽ lên đến 1 triệu người vào những năm 2015, và trong thời điểm hiện nay thì cỡ khoảng 500.000 người đang có mặt lao đọng tại các quốc gia trên khắp thế giới, tuy nhiên phí môi giới cao nên Tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn cao, nhất là ở Nhật Bản (chiếm 30-40%), tiếp đến là Hàn Quốc (25-30%), Đài Loan trên 9%- số trốn này sẽ bị về nước không sớm thì muộn trong vòng vài tháng sau khi đặt chân lên quốc gia bạn, họ sẽ bị truy quét, giam giữ vì phá bỏ hợp đồng và sẽ gây hậu quả đói nghèo quay vòng – người đi đã nộp 10.000 đô để đi vay ngân hàng bằng thế chấp nhà, sang bên nước bạn thì trốn nên bị trục xuất – nên gây nghèo cho cả gia đình dòng họ, nguyên nhân họ trốn thì rõ ràng là ở đúng hợp đồng thì không có lãi mà lại âm vốn bỏ ra khi môi giới , cũng như đi làm công không. Với gần 500.000 người gửi về 2 tỷ đô la trong năm qua ta sẽ thấy họ bình quân gửi về 4.000 đô la một năm tức là mất 2 năm rưỡi họ mới hoàn vốn vay chi cho môi giới, chưa kể lãi suất ngân hàng, do vậy nếu hợp đồng 3 năm thì may ra mới trả xong nợ và về nước với hai bàn tay trắng, mèo vẫn hoàn mèo. Trong khi nước ta nhập khẩu các hàng hóa của Trung quốc từ cái tăm, đồ chơi, cái dép…gi gỉ gì gi cũng là của Trung quốc , mà lại là hàng hóa có thể dễ dàng sản xuất trong nước được thì nhà nước không quan tâm để tạo việc làm cho số lao động này, để họ sản xuất ra của cải vật chất và được ở bên gia đình vợ con của họ ngay tại đất nước, được hưởng sức lao động mà không mất tiền môi giới, sự thâm hụt trong thương mại với TQ cỡ 8 tỷ đô la, nếu nhà nước tạo điều kiện sản xuất số hàng này trong nước thì cần gì đi xuất khẩu và cũng không mất tiền môi giới cho nước ngoài, bên cạnh đó so với 2 tỷ đô la đem về nước thì lợi nhuận sinh ra khi không phải nhập mà sản xuất được 8 tỷ đô la hàng hóa sẽ cao hơn rất nhiều. Rõ ràng là nhà nước chuyên chính vô sản độc tài đã bỏ rơi quyền lợi của người dân, quyền lợi chung cho đất nước.
Sự việc hàng chục ngàn giáo dân đòi đất đai cũng là tiếng nói không sợ sự chuyên chính kiềm kẹp nữa, cho dù kết quả có là thỏa hiệp sao chăng nữa nhưng nó cũng đã góp phần tạo nên sự lan truyền của lòng can đảm, phá vỡ thế cô lập từng người dân như trước nay chính quyền vẫn làm được, và nó cũng góp phần đánh thức xã hội đang trầm lặng trước cái ác- họ đã biết rằng cái ác chỉ duy nhất thắng khi những người tốt không làm gì cả.
Giá xăng dầu leo thang theo diễn biến của thế giới nhưng tiền xuất khẩu dầu thô của nước ta cũng tăng lên theo mà nhà nước lại không cân đối nguồn thu mà lại đổ hết sự khó khăn lên đầu dân. Giá bất động sản tăng cao có nguy cơ đổ vỡ dây chuyền, giá đất tại VN cao nhất trên thế giới – lợi thế cho chính quyền chủ đất, các khu đất vàng nội đô sẽ được bán và thu về tiền cho ngân sách tham nhũng còn các trường đại học, trung cấp, cao đẳng… phải ra ngoại thành nơi đất rẻ, các xí nghiệp ra đi để nhường chỗ đất vàng cho việc bán chác, trao đổi đi đêm ở cấp cao. Các cơ quan công quyền thì “chảy máu chất xám” do cơ chế không phù hợp với thời đại vì gắn đuôi XHCN. Đó chính là động lực để sản sinh ra một tầng lớp dấn thân cho dân chủ. Tết năm nay các nhà báo cũng đã vượt rào nhiều lần để yêu cầu tự do chính đáng, mà điển hình là các cơ quan báo chí trong nước- dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của đảng cộng sản đã không làm Hội báo Xuân như những năm trước- đó là hành động phản kháng cái “lề bên phải” của chế độ, các nhà trí thức hàng đầu cũng đã thành lập viện nghiên cứu phát triển IDS mà không cần dính dáng gì đến việc đóng hay mở của chế độ cả – một viện “mở” toàn diện mọi khía cạnh kinh tế chính trị của đất nước để các nhà trí thức có thể đến và làm việc. ..
Cơn lốc cổ phần hóa khắp nơi cũng đã làm được điều kỳ diệu đó là vô hiệu hóa gần hết quyền lực đảng ủy của cơ quan đó để góp 1 bước vào loại bỏ hệ thống chính quyền song trùng trong xã hội. Các tầng lớp “tư bản đỏ” hay không đỏ hiện nay cũng đã có nhiều sự lựa chọn cho mục tiêu có quyền lực hay vị thế trong xã hội nên không mặn mà, cố bám vào danh xưng cộng sản lỗi thời và mang tiếng là tội ác như nghị quyết 1481 của nghị viện EU đã nêu …
Các đảng viên cộng sản cấp dưới, hay đã nghỉ hưu – chiếm đa số cũng muốn quay lại với danh xưng đảng Lao động, hành động này cũng không khác gì đòi sửa hiến pháp và tất nhiên thời buổi này không thể giữ điều 4 bảo vệ cho danh xưng mới được. Bỏ qua yếu tố quyết định của hàng ngàn người đấu tranh dân chủ đang lộ diện, thì điều quan trọng không kém đó là : càng ngày càng đông các nhà đấu tranh dân chủ trẻ có , già có đều có người thân nhất như bố mẹ, ông bà , anh em ruột là các đảng viên của đảng cộng sản, hoặc họ là những đảng viên cộng sản đã rời đảng, chưa kể có người là đảng viên cộng sản nhưng họ đã âm thầm làm đảng viên của đảng khác và họ đang ẩn mình chờ cơ hội làm nội ứng…Lực lượng dân chủ đã đưa thế trận tiến sát sườn đối thủ hơn bao giờ hết, hay chính đảng cộng sản đã quá lỗi thời, lạc hậu và kìm hãm đất nước nên mới bị co dần về thế thủ như vậy. Đám tang trang trọng cho cụ Hoàng Minh Chính- tổng thư ký đảng Dân chủ Việt nam, vào những ngày đầu năm 2008 với hàng ngàn người tham dự cũng đã chứng minh rằng người dân đã hết nỗi sợ chính quyền chuyên chính độc tài và họ đã sẵn sàng cho một công cuộc dấn thân cho dân chủ hóa đất nước.
Mục tiêu mà lúc nào đảng cộng sản độc tài cũng rêu rao là làm kinh tế trước rồi đến chính trị đã thất bại : mới nhìn qua GDP tăng 8,5% tưởng là tốt , ai dè lạm phát 12,6% đã xóa xổ luôn sự tăng trưởng này và cho mức sống của người dân đi xuống tăng trưởng âm, càng tiến sâu vào kinh tế thị trường thì cỗ máy nhà nước cộng sản độc tài hiện nay càng tỏ ra phản động, chống lại sự phát triển tiến lên phía trước : nhân lực phần lớn thì yếu kém và số còn lại không có khả năng thi thố, cạnh tranh tự do vì thiếu ô dù , họ đang rời bỏ và họ đã tạo nên một trào lưu rời bỏ công quyền ra làm tự do, bỏ luôn cái đuôi XHCN trong sự nhẫn nhịn đã quá đà. Như dự báo của các nhà phân tích trong nước và quốc tế thì trong năm 2008 và những năm tiếp theo nhà nước sẽ còn phải in tiền ra nhiều để nâng lương, trả cho bộ máy yếu kém luôn làm ăn thua lỗ, lãng phí, tham nhũng…đặc biệt phải in tiền để mua đô la trả lãi vay vốn từ nước ngoài cũng rất nhiều và trả vốn vay đến hạn cho nước ngoài, sự xoay sở giải quyết tài tình của chế độ ở chỗ luôn đổ hết khó khăn lên đầu dân sẽ càng châm ngòi cho sự phản kháng mang tính chất tập thể, lan rộng vì tất cả người dân đều chịu hậu quả xấu của cách quản lý xã hội tồi tệ gây ra. Các biện pháp tăng dự trữ tiền Việt và đô la bắt buộc, hay phát hành tín phiếu để giảm lạm phát thì lại có tác dụng ngược làm tăng chi phí cho các ngân hàng, gây tâm lý xấu và có thể dẫn đến đổ vỡ hệ thống ngân hàng và các thị trường bất động sản cũng như chứng khoán, đồng tiền mất giá do lạm phát tích lũy sau 23 năm kể từ lần đổi tiền năm 1985 sẽ dẫn đến một tâm lý lo ngại một đợt đổi tiền mới với phần thiệt thuộc về quảng đại quần chúng vì chỉ có duy nhất Kho bạc là danh xưng Nhà nước chứ không phải kho bạc của nhân dân.
Những áp lực khách quan :
Trên thế giới hiện nay các thể chế xã hội đa nguyên chính trị, dân chủ chiếm đến 99% và chỉ còn lại một số nước theo chủ nghĩa cộng sản độc tài như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và Việt nam ta.
Trong số đó, ta hãy phân tích chính xác về mầm mống dân chủ, hay sự thay đổi đang có để nhận định về phương hướng phải xảy ra cho Việt nam.
Về Trung quốc, đa phần dân ta bị bưng bít thông tin cứ tưởng đó là nước không bao giờ thay đổi để có dân chủ nhưng trong cuối tháng 11 đầu 12/2007 Trung Quốc đã chính thức công bố sách trắng về chế độ chính trị, hiện nay họ đã hoàn toàn có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tuy nhiên vai trò của đảng cộng sản vẫn bao trùm. Dầu sao đó cũng là sự thay đổi theo đúng tiến trình lịch sử. Các đảng phái của Trung quốc cạnh tranh với nhau, cùng quản trị xã hội. Quốc hội là chung cho tất cả các đảng phái.
Bắc Hàn thực chất không phải là một đất nước theo đúng nghĩa của nó, mà thực ra nó chỉ là 1/2 của một quốc gia, với nỗ lực đang xảy ra giữa 2 bên Nam Hàn và phía bắc thì rõ ràng sự đa nguyên chính trị khi thống nhất hai nửa của đất nước họ là điều không phải bàn cãi, hiện nay nó đã có sẵn rồi.
Cuba , với lực lượng bất đồng chính kiến đông đảo và hoạt động quy mô lại được sự hỗ trợ của các nước dân chủ cho nên mầm mống đa nguyên chính trị đã thực sự chín muồi, với hàng chục ngàn người bất đồng chính kiến và được sự hỗ trợ hàng chục triệu đô la mỗi năm, lực lượng đối lập của Cuba đang dần áp đảo và một sự việc nhỏ như ông Fidel mất đi thì việc dân chủ hóa coi như đã được dọn sẵn.
Việt nam trong khu vực Đông nam Á chỉ còn là một nước độc tài duy nhất , nói vậy thì có thể ai đó bảo là còn Lào, Miến điện. Nhưng thực ra Lào là một quốc gia rất nhiều các bộ tộc hợp thành nên tính chất chính trị đa dạng cục bộ đang là cơ thể sống muốn bứt tung cái áo chật hẹp, đặc biệt là các tổ chức chính trị đối lập còn có cả lực lượng vũ trang, tuy ít về trang bị nhưng đang là sức mạnh đối lập hiện diện sẵn ,ví dụ vừa qua việc mua bán cả chục triệu đô la vũ khí của VangPao là một thí dụ. Vấn đề có xã hội dân chủ ở Lào chỉ là thời gian ngắn. Một nước bé như Campuchia cũng đã thực hiện chế độ đa nguyên chính trị ngay từ rất sớm, có thể nói là sau khi Việt nam rút hết quân về nước và hiện nay từ một đất nước đổ nát cả về con người cả về nền móng căn bản của xã hội họ đã và đang phát triển mạnh mẽ, một người dân dễ dàng mua 1 xe ô tô Camry 2.4 đời 2003 với giá 5.000 USD – Việt nam từ một nước đàn anh thì nay trở nên nước láng giềng cung cấp gái mại dâm làm nô lệ tình dục cho dân campuchia chứ không phải là ngược lại.
Miến điện những tưởng sẽ là một đất nước độc tài quân phiệt kéo dài nhưng sự kiện xuống đường vừa qua, năm 2007, của các lực lượng chính trị và sư sãi đã làm thay đổi tất cả : chế độ độc tài quân phiệt đã phải chấp nhận tổng tuyển cử vào 2010 với sự tham gia trước mắt của 8 đảng đối lập. Quân đội hoàn toàn không tham gia chính trị, quản trị đất nước mà chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Lực lượng kiều bào ở nước ngoài với các hội đoàn hùng hậu, am hiểu chính trị, có quan hệ tốt với các chính đảng, chính phủ các nước dân chủ tự do cũng đang tăng tốc cho việc hỗ trợ phong trào dân chủ hóa đất nước, họ chính là những chiếc cầu nối cho hai yếu tố khách quan và chủ quan kết hợp với nhau tạo nên sự thay đổi thần tình. Một phần khác, đó là công lao đóng góp các khoản ngoại hối gửi về nước gần 6 tỷ đô la trong năm qua cũng đã tạo nên một động lực cho kinh tế thị trường phát triển, nâng cao mức sống người dân cũng như tạo nên một tầng lớp trung lưu không “đỏ”.
Việt nam với hoàn cảnh khách quan và chủ quan như vậy thì việc kéo dài sự cai trị của một chế độ độc tài là không thể, nó đã yếu và phải thỏa hiệp để tự cứu chính mình. Chế độ độc tài tự biết rõ rằng không phải đàn áp những người đấu tranh dân chủ công khai mà giải quyết được sự tồn tại để cai trị nữa, bây giờ nó đã thực sự đối mặt với cả khối quần chúng nhân dân đang hừng hực khí thế tiến về phía trước, xóa mọi vật cản, và hơn ai hết nó hiểu rõ những nhân tố đối lập, bất đồng chính kiến qua hàng chục năm cọ sát , nó hiểu lực lượng dân chủ và một phần nào đã bị lôi kéo về phía tiến bộ. Do vậy, khối quần chúng đang hừng hực kia, áp lực quốc tế đang cao kia không phải là đối tượng cho sự thỏa thuận của nó : quốc tế thì đã dứt khoát nói không với cộng sản và độc tài , còn quần chúng thì đang cần tiến bước chứ không quản ngại con đường tiến có hẹp hay chật và có chướng ngại gì, nếu để quần chúng thiếu tính chính trị tiến bước một cách tự do thì sẽ dẫn đến sự đổ vỡ tan hoang, lực lượng dân chủ tuy chưa thượng phong nhưng rõ ràng họ xuất thân trong số đông nhân dân bị trị, họ có tiếng nói với quần chúng ở mức độ vừa phải và được quần chúng ủng hộ. Sự lựa chọn khôn ngoan nhất cho chế độ độc tài là đối thoại với lực lượng chính trị mà nó đã hiểu rõ đối tượng cần đối thoại. Đây cũng là cách duy nhất đưa đất nước qua giai đoạn chuyển đổi đầy nguy hiểm một cách an toàn, lộ trình dân chủ hóa đất nước sẽ xuất hiện trong năm nay với sự hợp tác của tất cả những người yêu nước, và tất nhiên bước khởi đầu sẽ không tránh khỏi những hạt sạn, những vấn đề chưa ngã ngũ, nhưng trên hết sự khởi hành cho công cuộc hòa hợp hòa giải dân tộc vì tương lai tươi sáng đã bắt đầu.
Hà nội, 18/2/2008.
Nguyễn Phương Anh.
Tháng Hai 19, 2008
Kỷ niệm ngày 17-2-1979:
Tiết lộ mới về cuộc chiến 1979
Đúng 29 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.
Trong nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ có lẻ tẻ.
Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.
Một trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân sự chống Việt Nam.
Những tư liệu mới
Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về “cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.
Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.
Nhưng theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.
Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.
Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.
Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.
Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc.
Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.
Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.
Trong một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm 2005, tác giả Xiaoming Zhang bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia. Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho rằng đã “vô ơn” trước sự giúp đỡ trước đây.
Quyết định cụ thể
Tư liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt Nam.
Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân khu Côn Minh.
Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.
Cuộc họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.
Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.
Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.
Người kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.
Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.
Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.
Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.
Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.
Có vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt dòng sông băng dọc biên giới Xô – Trung.
Số thương vong trong cuộc chiến 1979
Tư liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc xung đột biên giới với Việt Nam.
Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.
Giai đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa ngõ dẫn vào Lạng Sơn.
Giai đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông, Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.
Giai đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.
Diễn biến cuộc chiến
Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm Việt Nam bị bất ngờ.
Mặc dù có căng thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt Nam không tin rằng một “nước anh em” sẽ lại thật sự xâm lấn.
Khi quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.
Trong lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của Việt Nam là “chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm bước tiến quân của Trung Quốc.”
Đến ngày 20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân đối phương.
Tuy nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.
Tác giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.
Nhiều lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo binh.
Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.
Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.
Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn.
Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.
Đến ngày 23-2, Trung Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.
Nhưng sự chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.
Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.
Bắc Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng sớm càng tốt.
Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.
Vì bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa Hà Nội.
Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.
Số thương vong
Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.
Theo số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000 quân.
Cho đến nay, Việt Nam công bố không nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.
Phía Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói 20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.
Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.
Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.
Dù thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó được xem là cần thiết.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình chiến lược chung.
Trung Quốc rút ra bài học sau 1979
Sau khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến trường.
Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.
Một mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng chịu.
Ban lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn khách quan.
Trong bài viết mới nhất về chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu bài học từ cuộc chiến 1979.
Thứ nhất, họ kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.
Cuộc chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.
Mặc dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.
Bài học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo. Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến trường lại cũng hạn chế.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu, Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.
Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 – 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.
Nâng cao khả năng
Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.
Đây là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy quân.
Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.
Thành kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng và pháo binh.
Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.
Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.
Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.
Vì thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành Đô trong chiến dịch.
Bài học thứ năm là việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.
Vì thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao giờ hoạt động thật hiệu quả.
Khi quân đội tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên lạc.
Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.
Kinh nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không có sự ủng hộ của thường dân trong nước.
Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn 215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa chở ra trận địa.
Dĩ nhiên, ngày hôm nay không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.
Tuy vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung Quốc.
Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.
Sự cạnh tranh Liên Xô – Trung Quốc trong cuộc chiến VN
Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào?
Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, mối quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản này thực tế đầy sóng gió do các mâu thuẫn về tư tưởng và chính sách.
Ở bối cảnh đó, Việt Nam trở thành vấn đề gây ảnh hưởng giữa hai cường quốc này.
Trong một tiểu luận gần đây, Eva-Maria Stolberg, giáo sư ở ĐH Bonn, đã phân tích về mối quan hệ này.
Bài viết in trong tập sách “America, the Vietnam War and the World” do NXB ĐH Cambridge ấn hành tháng Chín 2003.
Theo Eva-Maria Stolberg, đối với Liên Xô và Trung Quốc, việc ủng hộ phong trào giải phóng của Việt Nam phục vụ ba mục đích: nó cho phép hai siêu cường biện minh hoặc chỉ trích các hệ tư tưởng của nhau; đó là một phần trong chiến lược của Liên Xô và TQ đối với Mỹ; và Việt Nam cũng là phương tiện để phục vụ những mục đích, quyền lợi bên trong cơ cấu nội bộ mỗi đảng.
Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi xin trích lược giới thiệu nội dung chính của bài viết. Xin lưu ý đây là những phân tích và quan điểm riêng của tác giả.
Ngay từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, liên minh Trung Quốc – Liên Xô đã có những chia rẽ mà đã tác động đến hệ tư tưởng, chính sách và chiến lược của cả hai nước trong thời chiến tranh Lạnh. Các quyền lợi quốc gia và quan niệm về an ninh bị định hình bởi quan niệm của lãnh tụ hai nước về cách thức mỗi nước có thể tồn tại trong môi trường toàn cầu khi ấy. Trong hoàn cảnh này, cuộc chiến Việt Nam là chỉ dấu đo đạc mang tính quyết định.
Trong mùa đông 1949-50, khi Stalin và Mao Trạch Đông thương lượng Hiệp ước Trung – Xô, hai người đồng ý việc chia sẻ nhiệm vụ. Đông Dương và Đông Nam Á nằm ngoài quyền lợi của Liên Xô và vì thế trở thành ‘sân chơi’ của Trung Quốc. Khi ông Hồ Chí Minh, trong chuyến thăm Bắc Kinh và Moscow tháng Giêng – Hai 1950, yêu cầu sự hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp, Stalin nói ông Hồ hãy nói chuyện với Trung Quốc. Các bằng chứng mới từ văn khố Trung Quốc cho thấy Stalin khi đó bác bỏ sự dính líu tới Triều Tiên và Đông Dương.
Khác biệt tư tưởng
Người Trung Quốc khi đó có thái độ ngược lại: Họ sẵn sàng cung cấp vũ khí cho Việt Nam đánh Pháp, và sau đó Trung Quốc gửi cố vấn quân sự do tướng La Quý Ba dẫn đầu, người sau này trở thành đại sứ ở Hà Nội.
Một sự thay đổi trong thái độ của Trung Quốc và Liên Xô đối với vấn đề Đông Dương đã diễn ra sau cái chết của Stalin và sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc.
Bộ máy lãnh đạo mới ở Moscow giờ đây muốn có giải pháp hòa bình cho xung đột ở Đông Nam Á. Trung Quốc khi đó cũng muốn có sự thỏa hiệp với phương Tây để ngăn sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tại hội nghị Geneva năm 1954, mục đích chính của Trung Quốc là đạt được uy tín quốc tế và quyền lực sau khi nước này bị cô lập vì cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên. Do sự thiếu kinh nghiệm ngoại giao quốc tế, Trung Quốc đã đứng đằng sau Liên Xô.
Chính sách của khối Cộng sản ở Geneva được đánh dấu bằng sự nhất trí. Việt Minh, sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ, muốn đuổi Pháp ra khỏi Đông Dương và thống nhất Việt Nam. Nhưng do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc, họ phải chấp nhận việc chia đôi đất nước. Tuy vậy, người Cộng sản Việt Nam ngay sau đó yêu cầu Trung Quốc giúp củng cố chính quyền ở miền Bắc, với mục đích sẽ thống nhất đất nước bằng phương tiện quân sự. Tháng Sáu 1955, Bộ trưởng quốc phòng Võ Nguyên Giáp có cuộc họp ở Bắc Kinh với người tương nhiệm, Bành Đức Hoài và một đại diện của nhóm cố vấn quân sự Liên Xô tại Trung Quốc. Cuộc họp, kéo dài đến tháng Mười, liên quan việc hoạch định quân sự.
Lúc này, người lãnh đạo mới của Liên Xô, Nikita Khrushchev, đề ra nguyên tắc ‘cùng chung sống hòa bình’ trong chính trị quốc tế. Trong hoàn cảnh Việt Nam, nguyên tắc này có nghĩa là phía Liên Xô muốn có sự chung sống giữa hai nhà nước Việt Nam và thống nhất thông qua trưng cầu dân ý. Ngược lại, Trung Quốc đề ra nguyên tắc ‘chiến tranh nhân dân’, nói rằng sự dính líu ngày càng tăng của Mỹ tại miền Nam Việt Nam là sự phản bội thỏa thuận Geneva.
Việc Liên Xô rút cố vấn ra khỏi Trung Quốc năm 1960 đánh dấu sự tan vỡ quan hệ giữa hai cường quốc cộng sản.
Lúc này, người cộng sản Bắc Việt tin rằng đã chín muồi cho đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Nhưng một quyết định chung cuộc đã bị đình hoãn do sự bất đồng chiến lược trong đảng – một bất đồng phản ánh cuộc tranh cãi lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Trong khi tướng Giáp tin rằng cách mạng ở miền Nam sẽ lâu dài và gian khổ, ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh ủng hộ chiến lược tấn công ồ ạt và đồng ý với quan điểm của Trung Quốc.
Mùa xuân 1961, Tổng thống Kennedy chấp thuận gửi 400 cố vấn quân sự đến miền Nam Việt Nam, và Trung Quốc phản ứng. Trong cuộc họp với thủ tướng Phạm Văn Đồng ở Bắc Kinh tháng Sáu năm ấy, Mao ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang, trong lúc Chu Ân Lai thì muốn một con đường linh động hơn, sử dụng biện pháp ngoại giao, chính trị cùng với chiến thuật bí mật ở miền Nam.
Trong chuyến thăm Hà Nội tháng Sáu 1963, chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ tuyên bố trong diễn văn là cuộc đấu tranh giữa phe xét lại (Khrushchev và Liên Xô) với ‘những người Marxist-Leninist chân chính’ (Trung Quốc) trên thực tế xoay quanh câu hỏi “liệu các dân tộc trên thế giới có thực hiện cách mạng hay không’. Ông Hồ Chí Minh đứng về phía ông Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh, những người ủng hộ chiến tranh ở miền Nam.
Trong những tháng sau đó, có chiến dịch chống phe ‘xét lại’, mà chủ yếu là tướng Giáp, người bị nghi ngờ là ‘bạn của Khrushchev’.
Nếu Chu Ân Lai và người ủng hộ ông đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với Mao, thì có lẽ Trung Quốc sẽ chỉ đóng vai trò quan sát viên trong chiến tranh Việt Nam. Quan điểm đối đầu với Mỹ của ông Mao liên quan đến viễn kiến của ông về đấu tranh giai cấp và chiến tranh nhân dân. Quần chúng cần thực hiện viễn kiến đó cả bên trong và ngoài Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh đó, mùa hè 1962, Trung Quốc gửi cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa súng đạn đủ để trang bị cho 200 tiểu đoàn.
Các đàm phán chi tiết tiếp tục trong các tháng sau đó. Cũng trong năm đó, Bắc Kinh đồng ý gửi tình nguyện quân vào Bắc Việt nếu quân Mỹ vượt qua vĩ tuyến 17. Tính từ 1956 đến 1963, Trung Quốc đã chuyển lượng vũ khí cho miền Bắc ở số lượng trị giá khoảng 320 triệu nhân dân tệ.
Năm 1964, Mỹ bắt đầu chuyển hướng sự chú ý từ miền Nam hướng ra miền Bắc, và tuyên bố sẽ không chấp nhận việc tăng chuyển quân và vũ khí từ miền Bắc.
Quyết định của Mỹ gia tốc cuộc xung đột trong tháng Hai 1965 với các cuộc không kích miền Bắc cho thấy nếu Hà Nội muốn thống nhất đất nước bằng quân sự, họ sẽ phải phụ thuộc vào Liên Xô và Trung Quốc.
Tại Liên Xô, Khrushchev đã không còn quan tâm đến Đông Dương trong mùa hè và mùa thu 1964; ông muốn Liên Xô tránh khỏi Đông Nam Á vì sợ một ‘khủng hoảng tên lửa Cuba thứ hai’. Cuộc chiến Việt Nam cũng có lợi cho Liên Xô ở chỗ nó thu hút sự chú ý của hai đối thủ là Mỹ và Trung Quốc; như thế Liên Xô có thể tập trung cho khu vực châu Âu và Viễn Đông.
Tuy vậy, chính sách không can thiệp của Liên Xô lại khiến Bắc Việt hướng nhiều hơn về Trung Quốc. Tháng 12-1964, bộ trưởng quốc phòng TQ thăm Hà Nội và ký hiệp ước hợp tác quân sự. Việc này cần được nhìn trong bối cảnh tranh chấp Xô – Trung: sự miễn cưỡng của Liên Xô được diễn giải như là cơ hội cho Trung Quốc đưa Việt Nam vào quỹ đạo của mình.
Cũng thời điểm đó, Khruschev bị hạ bệ và Leonid Brezhnev lên thay. Trung Quốc hy vọng sẽ có cải thiện trong quan hệ và trông chờ Brezhnev từ bỏ chính sách cùng chung sống hòa bình với phương Tây. Nhưng Anastas Mikoyan, thành viên trong Bộ Chính trị, sau đó tuyên bố Brezhnev sẽ tiếp tục chính sách chung sống này.
Trung Quốc ban đầu hứa gửi phi công sang Bắc Việt, nhưng sau đó họ rút lại vì lo ngại ưu thế hơn hẳn của không quân Mỹ. Bộ binh trở thành lựa chọn tốt hơn và sau đó một số lượng đáng kể nhân viên quân sự Trung Quốc được gửi sang miền Bắc.
Gần 320.000 người Trung Quốc đã có mặt tại miền Bắc từ tháng Sáu 1965 đến tháng Ba 1968. Họ không có nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu mà giúp xây sửa cầu đường, đường ray xe lửa. Ngoài ra, Trung Quốc xây một cảng bí mật ở Hải Nam, để từ đó vũ khí được chuyển cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc ở miền Nam.
Chính sách ngoại giao của Mao Trạch Đông lúc này cũng cần được hiểu thông qua những quan ngại của ông về đối nội. Mao lo ngại về tương lai TQ, đặc biệt trong trường hợp ông qua đời và một bộ máy mới lên.
Ông cảm thấy các nguyên tắc của cách mạng TQ sẽ bị phản bội và hệ thống chính trị trong tay lớp trẻ hơn rồi sẽ đưa TQ mở cửa với phương Tây.
Vì thế, Mao sử dụng cuộc chiến Việt Nam khơi gợi tinh thần chống đế quốc trong nhân dân TQ để chống lại những người ‘xét lại’ trong bộ máy và để bảo đảm vị trí của ông trong lịch sử. Đây là mục đích chính của chiến dịch ‘Ủng hộ Việt Nam và chống Mỹ’ tại Trung Quốc. Có một sự liên hệ trực tiếp giữa cuộc chiến tại Đông Dương và sự cực đoan ngày càng tăng trong chính trị nội địa tại TQ.
Thái độ Liên Xô thay đổi
Đầu năm 1965, tân thủ tướng Liên Xô, Kosygin, thăm Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng như một cách đánh dấu sự khôi phục chính sách châu Á của Liên Xô. Hoạt động ngoại giao con thoi này nhằm hai mục đích: hàn gắn quan hệ Xô – Trung và ngăn chặn hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.
Trong chuyến thăm Hà Nội, tháp tùng Kosygin có các chuyên viên tên lửa. Và ngày 10-2-1965, Liên Xô và Bắc Việt ký hiệp ước hỗ trợ kinh tế và quân sự.
Điều này đáng chú ý vì chỉ mới vào tháng 12-1964, Bắc Việt đã tuyên bố sẽ không hoan nghênh các chuyên viên dân sự và quân sự Liên Xô. Rõ ràng, Hà Nội đã dùng sự hỗn độn quanh diễn biến thay đổi lãnh đạo tại Liên Xô và việc củng cố quyền hành của Brezhnev để gây sức ép cho người Nga. Bắc Việt cảm thấy họ đang được cả hai thế lực cộng sản tìm cách chinh phục.
Sự hố̃ trợ quân sự to lớn của Liên Xô từ sau 1965 cũng có mục đích chung là giảm bớt mối liên hệ của TQ tại Việt Nam.
Nhưng điều này không có nghĩa là Hà Nội giờ đây đứng về phía Moscow trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Thực tế, họ tìm cách nhận được hỗ trợ tối đa từ cả hai bên.
Về cơ bản, có một sự khác biệt quan trọng trong thái độ của Liên Xô và TQ đối với vấn đề Việt Nam. Người Sô viết nghĩ rằng một nước XHCN như VN có quyền tồn tại và thống nhất đất nước, đặc biệt khi bị thế lực phương Tây đe dọa. Nhưng việc bảo vệ của một cường quốc XHCN, dù là Liên Xô hay TQ, chỉ có trong khuôn khổ cùng chung sống hòa bình.
Ngược lại, Trung Quốc xem cuộc xung đột VN là một phần trong phong trào đấu tranh chống đế quốc tại Đông Nam Á – ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan.
Tiến trình đi tìm một giải pháp hòa bình về câu hỏi VN diễn ra chậm chạp. Sự thay đổi trong tam giác Mỹ – Liên Xô – Trung Quốc diễn ra vào năm 1972 sau khi tổng thống Nixon thăm TQ.
Đến giữa tháng Sáu, chủ tịch Liên Xô Podgorny thăm Hà Nội và thúc giục Bắc Việt đàm phán. Một phần lý do là viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gây tiêu cực cho kinh tế Liên Xô, nhất là khi người Sô viết coi vấn đề VN không liên hệ trực tiếp về an ninh cho Liên Xô.
Trung Quốc lúc này cũng muốn có giải pháp hòa bình. Lý do quan trọng nhất là nhờ chuyến thăm của Nixon, TQ giờ đây có thể dùng Liên Xô đối chọi với Mỹ. Ngoài ra, lúc ấy họ hy vọng giải quyết vấn đề Đài Loan, nhưng buộc phải có sự hợp tác của Mỹ.
Lúc này, sự thay đổi chính sách của Liên Xô và Trung Quốc là cú đánh tâm lý cho Bắc Việt. Họ cảm thấy bị bỏ rơi và phản bội.
Moscow và Bắc Kinh có đủ lý do để hòa hoãn với Mỹ và ủng hộ một giải pháp ngừng bắn và chính trị tại Việt Nam. Các hội nghị thượng đỉnh Xô – Mỹ và Trung – Mỹ trong năm 1972 cho thấy rằng cả Liên Xô và Trung Quốc đều không muốn hy sinh quyền lợi quốc gia của họ, tức là cải thiện quan hệ với Mỹ.
Ngày 27-1-1973 khi hiệp định Paris được ký kết, nó phản ánh một trật tự thế giới mới mà sẽ không thể có nếu thiếu sự hòa hoãn Mỹ-Xô-Trung năm 1972.
Cuộc chiến Việt Nam cho thấy quan hệ tam giác Moscow – Hà Nội – Bắc Kinh rất khác với ngôn từ tuyên truyền chính thức về ‘tình hữu nghị quốc tế’.
Mỗi bên đi theo một chính sách quốc gia riêng, tạo nên sự nghi ngờ lẫn nhau mà đã đóng góp vào việc kéo dài cuộc xung đột. Ngoài ra, trong suốt lịch sử, cả ba nước này thể hiện một thái độ yêu – ghét về nhau. Và sự khác biệt văn hóa giữa TQ và VN cũng góp thêm vào sự phức tạp trong tam giác này.
Phản ứng của Liên Xô – TQ ở thời kì cuối cuộc chiến
Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, chúng tôi đã giới thiệu phân tích của một nhà nghiên cứu (Eva-Maria Stolberg) về việc Trung Quốc và Liên Xô nhìn nhận vấn đề chiến tranh Việt Nam như thế nào.
Tương tự chủ đề này, dưới đây là trích thuật đoạn cuối cùng trong quyển sách “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists’ Perspective”, của tác giả Ang Cheng Guan.
Ông là giáo sư tại National Institute of Education, thuộc Nanyang Technological University (NTU), Singapore, chuyên ngành nghiên cứu về khía cạnh quốc tế của cuộc chiến Việt Nam và khu vực Đông Nam Á sau Thế chiến Hai.
Cuốn ‘Ending the Vietnam War’, do RoutledgeCurzon xuất bản năm 2004, là phần tiếp theo của tập ‘The Vietnam War from the Other Side’, cùng một tác giả, in năm 2002.
Nếu bản thân những người cộng sản Việt Nam đã ngạc nhiên vì tiến độ diễn biến quân sự ở miền Nam kể từ tháng Ba 1975, thì Bắc Kinh và Moscow, vốn cả hai không nắm rõ tình hình ở Việt Nam cũng như không kiểm soát nhiều diễn biến tại đó, cũng bị ngạc nhiên.
Tiếc là hiện nay, người ta chưa có tài liệu để biết về suy nghĩ tại hai nước vào thời điểm đó. Tuy vậy, chúng ta biết rằng quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đã trắc trở kể từ 1972. Đã có các đụng độ nơi biên giới hai nước trong năm 1973, và tháng Giêng 1974, TQ chiếm đảo Hoàng Sa. Nhưng vào thời điểm này, một Hà Nội đang bận rộn với nhiều diễn biến khác chỉ có thể bày tỏ sự phản đối yếu ớt trong chốn riêng tư.
Tháng Ba 1974, Hà Nội đóng cửa tờ báo tiếng Hoa duy nhất và hoạt động của Hội hữu nghị Việt – Hoa cũng bị ngừng lại.
Đến tháng Tám 1974, vì lý do sức khỏe, Chu Ân Lai không còn theo dõi quan hệ Việt – Trung. Hai chuyến đi của ông Lê Thanh Nghị năm 1974 đến Bắc Kinh cho thấy lúc này Hà Nội gặp khó khăn khi muốn có sự hỗ trợ kinh tế và quân sự từ Trung Quốc.
Một tuần trước ngày 30-4, tướng Dương Văn Minh còn tin rằng Hà Nội sẽ phải đàm phán với ông. Trong số các lý do ông nghĩ đến là Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam không muốn bị Hà Nội chi phối và rằng Bắc Kinh muốn có hai nước Việt Nam riêng biệt vì một VN thống nhất sẽ đe dọa biên giới tây nam của TQ.
Giờ đây nhìn lại, người ta thấy vào thời điểm 1974-75, Bắc Kinh đã ước đoán – mặc dù sai lầm – rằng tình hình ở Nam Việt Nam sẽ còn tiếp tục trong một thời gian.
Mặc dù Bắc Việt có khác biệt với người Nga, nhưng bản báo cáo thường niên của sứ quán Liên Xô ở Hà Nội về quan hệ song phương nói chung lạc quan. Tuy không có số liệu, nhưng người ta biết rằng Liên Xô, so với Trung Quốc, tỏ ra đáp ứng nhiều hơn trước yêu cầu của Việt Nam muốn có trợ giúp kinh tế, quân sự.
Moscow vẫn tiếp tục là một kênh liên lạc quan trọng giữa Mỹ và Liên Xô. Hồi ức của Anatoly Dobrynin về ngày 19-4-1975 cho biết Kissinger đã yêu cầu Moscow can thiệp với Hà Nội để cho phép việc sơ tán người Mỹ và người miền Nam ra khỏi Sài Gòn.
Ngày 24-4, Hà Nội trả lời thông qua Brezhnev rằng người cộng sản Việt Nam sẽ không ngăn trở việc di tản và không có ý định gây tổn hại cho uy tín của Mỹ.
(Ba Sàm lượm lặt từ BBC)
Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe
Tháng Hai 19, 2008
Việt Nam hậu thuẫn chính sách ‘Một Nước Trung Quốc’:
Việt Nam phản đối Kosovo độc lập
BBC 18 Tháng 2 2008 – Cập nhật 14h25 GMT
Việt Nam, với tư cách thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc bắt từ đầu năm 2008, đã vừa lên tiếng hôm nay, thứ Hai 18 tháng 2, phản đối việc Kosovo tuyên bố độc lập khỏi Serbia.
Đại sứ Việt Nam tại Liên hợp quốc, ông Lê Lương Minh, đã phát biểu: “tái khẳng định chính sách của Việt Nam rằng sự kiện đơn phương tuyên bố độc lập của Kosovo không phải là một việc thực hiện đúng đắn nghị quyết số 1244 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc”.
Đại sứ Việt Nam còn nói thêm: “và điều đó sẽ làm phức tạp thêm tình hình ở Kosovo và khu vực Balkan”.
Thông tấn xã Việt Nam trích lời của vị đại sứ này kêu gọi đối thoại và các đàm phán hoà bình và nói rằng các biện pháp cần được tiến hành để chống lại các xung đột, bạo lực có thể xảy ra chống lại thường dân và các viên chức của Liên hiệp quốc tại Kosovo.
Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 18.02, ông Vũ Khắc Nhụ, tham tán chính trị của Sứ quán Việt Nam tại Romania và cũng là nơi phụ trách đối ngoại đối với Serbia, nói Việt Nam muốn các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp đúng với luật pháp quốc tế về Kosovo.
Ông Nhu nói: “Mặc dù tình hình đã diễn ra như vậy, chúng tôi kêu gọi các bên kiềm chế. Và cộng đồng quốc tế tiếp tục đóng góp để tình hình Kosovo được tiến triển theo các yêu cầu và mong muốn của các bên có liên quan”.
“Việt Nam mong rằng cộng đồng quốc tế cũng quan tâm và thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Và tất cả các hành động của thế giới cần tuân thủ Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế để giải quyết lợi ích của các bên liên quan”.
Phản ứng của Việt Nam này không nằm ngoài dự kiến của giới quan sát khi có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam đã lựa chọn lập trường trong sự liên hệ và cân nhắc quan hệ với Trung Quốc.
Việt Nam coi đây là siêu cường có áp lực rất mạnh mẽ trên trường thế giới và trong Hội đồng Bảo an, đồng thời là láng giềng đầy uy lực đối với mình.
Trung Quốc lo ngại tiền lệ
Trung Quốc không tán thành với việc Kosovo độc lập vì quan ngại đây sẽ là một tiền lệ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến Trung Quốc khi xét đến khả năng và khuynh hướng li khai lãnh thổ.
Đất nước khổng lồ 1,3 tỉ dân, đứng hàng thứ tư thế giới về kinh tế này từ nhiều năm qua đã bị thế giới chỉ trích về việc được cho là vi phạm nhân quyền và tư cách độc lập của Tây Tạng.
Ngoài ra, Đài Loan cũng đang chuẩn bị trưng cầu dân ý về việc có nên độc lập với Trung Quốc lục địa hay không, trước thềm việc ra đi của lãnh tụ đảng Dân tiến Trần Thuỷ Biển.
Trung Quốc từ lâu luôn đặt yêu sách và điều kiện tiên quyết đối với Việt Nam cũng như nước khác trong các quan hệ kinh tế, chính trị và đối ngoại.
Theo các điều kiện này, các nước muốn nhận được một quan hệ làm ăn và sự bình ổn với Trung Quốc cần tránh xa việc ủng hộ bất cứ khuynh hướng tiềm tàng đòi độc nào của các vùng lãnh thổ mà Bắc Kinh coi là không thể tách khỏi của nước này.
Một số người cũng cho rằng Hà Nội cũng đã xem xét cán cân lá phiếu trong nội bộ Hội đồng bảo an và thấy rằng việc bỏ phiếu chống của mình là an toàn và không đơn độc.
Nguyên do thật đơn giản vì đã có ít nhất hai lá phiếu chống khác có sức nặng rất lớn đến từ Matxcơva và tất nhiên là từ Bắc Kinh.
Tháng Hai 17, 2008
Dương đông kích tây
hay kỳ chiêu Đà Đao
của người lính già Bùi Tín
Hồ Gươm
Tôn Tử Binh Pháp có xuất xứ khởi đầu từ thời Xuân Thu bên Tàu ( thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên) đã trải qua hàng ngàn năm lưu truyền rộng rãi và là một cuốn binh pháp nổi tiếng mà cho đến tận ngày nay người ta vẫn thường hay bàn tới.
Tôn Tử Binh Pháp được bố cục gồm 13 thiên , mỗi thiên đều nhấn mạnh vào yếu tố căn bản nhất của việc vận dụng nghệ thuật chiến tranh, ngoài ra nhiều người còn biết đến Tam Thập Lục Kế, được khái quát từ Tôn Tử Binh Pháp mà ra.
Kế sách được sắp xếp đầu tiên trong Tam Thập Lục Kế của Tôn Tử Binh Pháp chính là kế Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương) cho chúng ta thấy tầm mức được coi trọng của nó.
Câu chuyện bắt đầu từ một bài báo được đăng tải vào lúc 1:0 PM, ngày 24/12/2007 trên báo Đại Đoàn Kết Online với tiêu đề: ” Chính quyền xử lý chưa nghiêm “.
Nội dung của bài báo cũng chẳng có gì đặc biệt vì chỉ xoay quanh chuyện tranh chấp đất đai giữa ông Lưu Tiến Đạt, tác giả của bài báo này với gia đình ông Vũ Trung và bà Lưu Thị Duyên ở Phòng 102- Khu tập thể Ủy ban khoa học nhà nước, ngõ Thịnh Hào 1 (phường Hàng Bột- quận Đống Đa), một câu chuyện tranh chấp bình thường như ngàn vạn câu chuyện tranh chấp đất đai bình thường khác vẫn đang hàng ngày xảy ra ở Hà Nội.
Bài báo tố cáo của ông Lưu Tiến Đạt xuất hiện trên báo chí được khoảng hai tuần thì liên tiếp sau đó Báo Đời Sống & Pháp Luật ( 08/01/2008) , báo Kinh Tế & Đô Thị ( 16/01/2008), báo Hà Nội Mới ( 18/01/2008) có những bài báo đứng về phía gia đình ông Vũ Trung và bà Lưu Thị Duyên để đồng loạt phản kích lại bài báo của ông Lưu Tiến Đạt.
Nội dung của những bài báo này cũng chẳng có gì đặt biệt nổi bật, nó cũng từa tựa như trăm ngàn các bài báo viết về chủ đề tranh chấp đất đai hiện nay, nghĩa là chi tiết đến từng ký hiệu, từng câu chữ trong các văn bản pháp lý mà các đối tượng đang tranh chấp trưng dẫn ra cùng những giải trình dài lê thê.
Sự việc có lẽ sẽ chẳng gây được ấn tượng nào đáng kể trong tâm trí bộn bề của bao độc giả nếu như vào ngày 09/ 02/2008 vừa qua ông Bùi Tín không công bố rộng rãi bài viết mang tên: Không thể bất công kéo dài đến vậy để viết về một sự kiện thoạt đầu tưởng chẳng có gì liên quan đến các bài báo đã được đăng tải ở Việt Nam mà tôi mới dẫn ở trên kia, vốn dĩ đã được săm soi rất kỹ bởi đủ các loại ban bệ ở Việt nam.
Nhân đây cũng cần phải nhắc lại một số chi tiết xung quanh câu chuyện liên quan đến nhân vật Nguyễn Tất Trung, là nhân vật chính trong bài viết Không thể bất công kéo dài đến vậy được công bố ngày 09/02/2008 của ông Bùi Tín. Câu chuyện với những số phận đầy bi thảm của những người liên quan trong cuộc, đã liên tục được nhắc tới trong thời gian vừa qua, đặc biệt là từ khi xuất hiện một lá thư đề ngày 29 tháng 7 năm 1983 được gửi đi từ Cao Bằng cho Chủ Tịch Quốc Hội Việt Nam lúc đó là ông Nguyễn Hữu Thọ của một thương binh tự xưng là chồng chưa cưới của cô Nguyễn Thị Vàng, cô Vàng có người chị họ là Nguyễn Thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân, sau này mọi người đều biết tới với cái tên Nông Thị Xuân. Qua lá thư này chúng ta được biết rằng ông Hồ Chí Minh đã có với cô Nông Thị Xuân một người con trai được đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Điều đặc biệt ở đây là tất cả những người liên quan đến câu chuyện này đều lần lượt bị giết chết một cách rất dã man để bịt miệng. Người duy nhất còn sống sót cho đến ngày hôm nay và là nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng trong tấn bi kịch này chính là Nguyễn Tất Trung. Tuy nhiên sau khi toàn văn bức thư này xuất hiện trên báo chí và mạng Internet đã có những nhân chứng quan trọng xuất hiện và làm sáng tỏ thêm những chi tiết xung quanh nội dung của bức thư tố cáo này như ông Vũ Thư Hiên, con trai của cụ Vũ Đình Huỳnh, người đã từng là thư ký của ông Hồ, hoặc ông Nguyễn Minh Cần từng là Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội,và đặc biệt là ông Bùi Tín, tác giả của bài viết về Nguyễn tất Trung mới đây.
Trong tất cả những bài viết khi đó có liên quan vụ án tình ái của ông Hồ thì số phận của nhân vật Nguyễn Tất Trung được đề cập đến rất mơ hồ, người ta chỉ biết có một Nguyễn Tất Trung nào đó đã từng được giao cho nhiều người thay nhau đưa về nhà nuôi nấng và trong số những người đó có ông Vũ Kỳ, một thư ký trung thành của ông Hồ. Người ta cũng còn biết thêm được rằng Nguyễn Tất Trung đã được ông Vũ Kỳ đổi tên gọi là Vũ Trung, tất cả những chi tiết đó như là một câu chuyện kể hoang đường đã tồn tại và lan truyền hàng chục năm nay mà không có bất kỳ một dẫn chứng thuyết phục nào để chứng minh rằng có một con người bằng da bằng thịt như vậy đã và đang tồn tại ở trên cõi đời này. Những lời đồn thổi cũng chỉ xoay quanh những chi tiết đã được người ta biết đến từ lâu. Tuyệt đối không thấy xuất hiện thêm một chi tiết mới nào khác nữa.
Ngay trong cuộc trả lời phỏng vấn của đài Á châu tự do của ông Bùi Tín ngày 18/ 05/ 2007 gần đây với chuyên đề nhân dịp kỷ niệm sinh nhật của ông Hồ Chí Minh, chính ông Bùi Tín cũng chỉ nhắc lướt qua sự kiện này một cách rất sơ sài và nhàm chán như sau :
“…Rồi sau này, khi ông về Hà Nội rồi, người ta cũng biết là chính ông Trần Quốc Hoàn đã bố trí cho ông Hồ một cô tên là Nông Thị Xuân, hàng tuần lễ vào gặp ông, và ông Hồ đã có con là anh Nguyễn Tất Trung năm nay đã hơn 50 tuổi. Tất cả những chuyện đó, tôi nghĩ là chúng ta cần phải biết, tuy là chuyện riêng nhưng cũng phải biết để đánh giá…”
Ông Bùi Tín là một nhà báo chuyên nghiệp tuy xa Việt Nam đã lâu nhưng theo dõi những bài viết của ông trong thời gian vừa qua chúng ta thấy rằng ông Bùi Tín hiểu khá rõ chuyện hậu trường chính trị ở trong nước. Vì vậy không phải ngẫu nhiên mà ông Bùi Tín lại đi đến kết luận được ông viết ra trong bài viết ngày 09/02/2008 vừa qua rằng:
“Việc thông tin công khai, nói lên đầy đủ sự thật về Nguyễn Tất Trung nay đặt ra là đã chín muồi. “
Và cũng không phải là chuyện tình cờ khi ông Bùi Tín nêu đích danh địa chỉ Phòng 102- Khu tập thể Ủy ban khoa học nhà nước trong ngõ Thịnh Hào vào bài viết, là địa chỉ mà hiện nay vợ chồng Vũ Trung ( aka Nguyễn Tất Trung)- Lưu Thị Duyên đang cư ngụ và cũng là địa chỉ cùng với tên tuổi của chủ hộ đã được chính báo chí Việt Nam mới chính thức xác nhận nhiều lần trước đó- tất nhiên là bằng con đường khác.
Kỳ án của lịch sử Việt Nam cận đại tuy chưa tới hồi kết thúc vì còn thiếu những xác quyết được xác nhận bằng Pháp Lý nhưng khó khăn lớn nhất đã được khép lại sau hàng chục năm ròng những người trong cuộc chơi trò ú tim với nhau, đó là việc bảo vệ nhân chứng làm sao để cho khi câu chuyện đến lúc vỡ lỡ ra thì nhân chứng không thể tự nhiên biến mất hoặc lặp lại số phận giống như những gì đã từng sảy ra với hầu hết những người liên quan đến sự việc này.
Vũ Trung- Lưu Thị Duyên đã lồ lộ ra đó như những thực thể bằng xương bằng thịt, từ một kẻ vô danh và hư ảo, họ đã từ truyền thuyết bước ra với công luận bằng những chi tiết rất ư đời thường mà không còn một thế lực nào có thể làm cho họ lại tự nhiên biến mất được nữa.
vợ chồng Nguyễn Tất Trung và Lưu Thị Duyên
cùng con là Nguyễn Thanh Trung (bên phải)
tại gia đình ông Vũ Kỳ vào năm 1998;
người có râu trắng dài là ông Vũ Kỳ (giữa)
( nguồn: www.doi-thoai.com )
Từ nay, ngàn vạn cặp mắt ở khắp nơi trên trái đất này sẽ hàng ngày đổ dồn theo những nhịp bước của cuộc sống của vợ chồng họ và sẽ còn cứ như vậy mãi cho đến một lúc nào đó kỳ án lớn nhất trong lịch sử Việt Nam được khép lại bằng chính những kết luận thuyết phục nhất của những cơ quan Pháp Lý có thầm quyền và tin cậy nhất.
Tôi tin chắc rằng, để có được một viễn ảnh với một kết cục minh bạch đầy hứa hẹn như vậy, ông Bùi Tín đã đóng góp không ít công sức của mình vào trong đó.
Và người dân Việt Nam sau này sẽ còn phải nói lời cảm ơn ông Bùi Tín vì ông đã cung cấp cho họ những thông tin quí giá hiếm hoi để giúp họ hiểu rõ hơn bản chất con người thật của cha già dân tộc Hồ Chí Minh, một người hoàn toàn không xứng đáng với vai trò của một người cha ngay cả với hòn máu của chính mình.
12/02/08
Hồ Gươm
Tháng Hai 17, 2008
Điếu Cày phỏng vấn
nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa:
“Anh có biết nhà nước này chi cho tổng cục 2 bao nhiêu tiền để làm cái việc này không?”
Hải: Công an nội vụ ngăn chận rất nhiều người, đặc biệt là những anh em dân chủ có những biểu hiện như thế nào…
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa anh Hải, tôi là Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong tình trạng như anh biết là cụ Hoàng Minh Chính là một người tuổi đã cao, một người rất đáng trọng, đáng kính. Và phong tục tập quán, nét văn hóa nhân bản không phải chỉ của Việt Nam mà của nhân dân toàn thế giới là vấn đền tiễn biệt người đã khuất. Thế mà khi nghe tin cụ Hoàng Minh Chính mất và tin tức của cụ được loan ra rộng rãi thì công an Hải Phòng họ đã bao vây nhà tôi rồi. Hầu như là 24/24 họ bao bây nhà tôi.
Những ngày Tết thì tôi và vợ tôi có đưa nhau đi chúc Tết bạn bè thân hữu, thân nhân thì họ cũng đều cử 2 xe đi để giám sát chúng tôi, nhiều lúc rất là khó chịu, bởi vì mình đã vào nhà người ta để chúc Tết rồi mà cái đuôi của mình thì vẫn ở ngoài ngõ. Anh Hải ạ, đấy là cái điều khó chịu lắm.
Cả đêm, tôi rất thương các người công an này. Cả đêm họ cứ phải canh giữ, lẩn quẩn quanh nhà tôi. Những đội ở xa, rồi có đội ở gần, rồi có một ô tô, những người trên ô tô thì có người xuống đi lẩn quẩn quanh nhà tôi. Trời thì rất lạnh anh ạ, mưa phùn ở miền Bắc thì anh biết rồi. Lạnh căm căm, có đêm xuống đến 6 độ thế mà đội quân ấy họ vẫn kiên trì, và lại là những ngày Tết. Thật khổ cho họ!
Và tôi cũng chả có ý đồ gì hoặc ý định gì làm hại họ cả. Chỉ chuẩn bị đi viếng đám tang cụ Hoàng Minh Chính thôi thế mà lại như vậy.
Thế rồi ngày mùng Hai Tết, trong nhóm công an canh giữ tôi có 2 người họ vào. Họ đặt ngay vấn đề răng đe luôn. Họ bảo rằng họ có đủ biện pháp và đủ lực lượng để cưỡng bức tôi ở nhà. Tôi cũng có tranh luận với họ nhưng tranh luận với họ thì chúng ta không tìm ra được tiếng nói chung đâu anh Hải ạ. Họ nói rằng lệnh của cấp trên, và lệnh của họ là lệnh miệng, không có văn bản giấy tờ gì hết. Còn tôi là người đặc biệt, ai đi cũng được nhưng riêng tôi thì không được đi.
Hải: Họ có nói họ thuộc bộ phận nào không anh?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Có, những người ấy thì tôi vẫn thường làm việc với họ mà. Họ là C25. Công an 25, công 38… tất cả là vòng trong vòng ngoài hết.
Hải: Họ có mặc sắc phục gì?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Không, những người theo dõi tôi họ đều mặt dân sự cả anh ạ.
Hải: Họ có thường xuyên như vậy không, hay chỉ mới trong dịp Tết này thôi?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Trước đây thì tôi vẫn thường thường bị như vậy anh ạ, nhưng mức độ không cao.
Đặc biệt nghiêm trọng là thế này anh Hải ạ, vào 6 giờ tối ngày mùng 4 Tết thì có 2 người, họ bước vào nhà tôi. Họ tự xưng là từ Hà Nội xuống, một người ở tổng cục tình báo, một người ở tổng cục 2. Họ xưng như thế nhưng tôi cũng không biết là có nên tin họ không. Có điều là họ đến vào ngày Tết và họ cũng vui vẻ thôi, cho nên sự thật mình cũng không biết. Trong câu chuyện với tôi thì họ nói rằng họ phải rất vất vả từ Hà Nội xuống đây chỉ có trao đổi với tôi một vấn đề này thôi, là tôi không được đi dự đám tang cụ Hoàng Minh Chính.
Hải: Chuyện đó đối với họ rất quan trọng hả anh?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Vâng. Và họ có hỏi tôi là anh có nhớ đến vụ đâm xe, tức tai nạn giao thông của kịch ảnh gia Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh cùng người con hay không? Tất nhiên là tôi biết bởi vì cùng văn nghệ sĩ với nhau cả và lại cùng miền Bắc cả, và cùng thời với nhau cho nên tôi biết ông. Vũ đụng xe ấy làm thiệt mạng Lưu Quang Vũ là một người viết kịch bản rất nổi tiếng, và trong luồn gió mới tự do dân chủ. Cộng thêm là người vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh rất nổi tiếng, cùng một người con. Cái chết ấy thật oan uổng và cũng có nhiều khúc mắc. Khi họ hỏi tôi như vậy thì tất nhiên tôi bảo với họ là tôi nhớ và tôi biết. Và tôi có hỏi họ thế là các anh đã xác nhận là Lưu Quang Vũ cùng Xuân Quỳnh và người con bị hãm hại? Người nói chuyện với tôi không nói gì. Anh ta lại hỏi tôi rằng anh có biết nhà nước này chi cho tổng cục 2 bao nhiêu tiền để làm cái việc này không? Tôi hơi rùng mình anh Hải ạ. Trước mặt tổng cục 2 thì hơi sợ đấy.
Hải: Có vẻ nó thẳng thắn quá phải không anh?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Vâng. Nhưng cho đến bây giờ thì tôi vẫn hy vọng rằng anh ta không phải là tổng cục 2 mà chỉ là một người mạo danh.
Hải: Anh ta chỉ có mặc thường phục thôi hả anh?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Mặc dân sự thôi. Tôi có hỏi giấy tờ thì anh ta không đưa. Anh ta bảo với tôi là anh cứ tin đi, đừng nghi ngờ gì bởi vì chúng tôi mang đến cho anh điều tốt lành! (cười…)
Hải: Có dấu hiệu gì là họ có mang bản sắc của cơ quan nhà nước không anh?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Bản sắc của cơ quan nhà nước thì ít lắm anh ạ. Người họ cũng bình thường, da hơi đen, sắc mặt thì lạnh. Sắc mặt hai người tôi thấy đều lạnh cả. Nhưng với một cảm quan của nhà văn thì tôi thấy họ có vẻ là những người công an đóng vai thì nhiều hơn, đó là điều mà tôi chứng minh thêm những lời nói của hai người tự xưng là tổng cục 2.
Sau đêm hôm đó thì ngày nào cũng có một xe mang biển xố Hà Nội chạy qua chạy lại trước của nhà tôi và buổi tối thì dừng hẳn trước của nhà tôi suốt đêm. Chuyện của tôi mà liên quan đến tận Hà Nội đấy anh ạ.
Hải: Tình trạng hiện tại của những người bị ngăn cản đến với đám tang, cụ thể là chính anh và những người chung quanh như thế nào?
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Bây giờ thì mới có mùng 6, đám tang của cụ Chính thì mùng 10. Những người khác tôi có nhận được thông tin là họ vẫn chưa hề hấn gì cả. Tức là chưa bị đe dọa, chưa bị bao vây. Riêng tôi thì bị nặng hơn, sớm hơn. Cô Nghiêm, ông Vũ Cao Quân và một vài người khác thì chưa có thông tin gì về việc công an đến nhà và bao vây cả.
Hải: Như vậy thì có thể hiểu được rằng nếu như anh bước ra khỏi nhà là sẽ có người đi theo và níu anh lại.
NV Nguyễn Xuân Nghĩa: Bây giờ có thể nặng hơn nưa, bởi vì giữ lại đã xảy ra rồi anh ạ. Đến ngày đám tang cụ Hoàng Minh Chính thì chắc chắn là tôi không được ra khỏi nhà rồi. Nếu tôi có ra khỏi nhà thì tôi cũng không bước lên được ô tô, họ sẽ kéo lại và cảnh sát giao thông sẽ đuổi ô tô đi. Họ sẽ lập lại chuyện cũ thôi. Mà lần này còn cương quyết hơn. Lần này mà tôi ra khỏi nhà là họ tông đến và họ hành hung nữa anh ạ.
Hải: Cám ơn anh và cũng xin chúc anh vượt qua được những giai đoạn gay cấn khó khăn đối với mình để vững tin trên những ý tưởng, con đường mình đã quyết định chọn ./.














