Tháng Hai 17, 2008

Dân gian truyền tụng

(Ca dao, kính tặng cụ Hoàng Minh Chính)

        hmc.jpg

           Có ông Viện trưởng Mác-Lê

           Bị Mác-Lê đánh chán chê,

                                            một đời !

           Thế gian

           nào có mấy người

                   Bỏ nơi quyền quý

                   tìm nơi phong trần.

          

           Bỏ quan

                          về đứng giữa dân

           Nghìn thu

                     làm một chứng nhân anh hào

       

                          Cõi này 

                            là cõi

                          làm sao ?

                Thiên đường đưa lối

                           lạc vào

                         Trầm luân ! 

 

                                       1-12-2007

                                       Hà Sỹ Phu

 

Tháng Hai 17, 2008

Ba Thế Hệ Chung Vai Sát Cánh

Lữ Triệu Phong

hmc2-tnct.jpg
Giáo sư Hoàng Minh Chính đã từ giả đồng bào Việt Nam vào đêm mùng 1 Tết Mậu Tý.

Ông từng là tù nhân chính trị dưới thời Pháp thuộc, và là tù nhân chính trị dưới thời Cộng sản. Ông đã đi qua những nhà tù khét tiếng Sơn La, Côn Đảo và Hỏa Lò. Ngay cả tư gia của ông cũng từng là một loại nhà tù không địa chỉ. Ông là tù nhân chính trị dưới cả hai chế độ thực dân và cộng sản, chỉ vì ông đã một lòng cổ võ cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Ông từng là Tổng bí thư đảng Dân Chủ, ngay từ những ngày cách mạng mùa Thu năm 1945. Ông từng là lãnh đạo Đại Đội Quyết Tử từ tháng 12 năm 1946, không chỉ quyết tử cho nền độc lập nước nhà, mà chính yếu là cho nền dân chủ Việt Nam. Ông vẫn tuyệt đối tin tưởng vào lý tưởng tự do dân chủ, và ông vẫn quyết tử khi quyết định phục hoạt đảng Dân Chủ vào tháng 6 năm 2006.

Ông là sáng lập viên Viện Triết Học Mác Lê từ năm 1960. Ông trở thành tù nhân số lẻ của chế độ nhiều lần, vào những năm 1967, 1981 và 1995, chỉ vì đã viết kiến nghị, kháng nghị và khuyến cáo gửi lãnh đạo đảng Cộng sản Hà Nội. Sau bao phen vào tù ra khám, ông vẫn một lòng thiết tha với lý tưởng tự do dân chủ, và đã trở thành một trong những sáng lập viên của Nhóm Dân Chủ, năm 2000, cũng là tiền thân của Hội Nhân Dân Ủng Hộ Nhà Nước Chống Tham Nhũng, năm 2002, và Phong Trào Dân Chủ, năm 2005.

Cả đời hoạt động của ông gắn liền với hai từ Dân Chủ. Ông tham gia Đoàn Thanh Niên Phản Đế từ những năm đầu đời 1936 là để xây dựng dân chủ. Đến ước ngyện cuối đời của ông, qua lời kể lại của chị Thanh Hà là trưởng nữ của ông, cũng vẫn chỉ vỏn vẹn hai từ Dân Chủ.

Ông quyết định phục hoạt đảng Dân Chủ là để tạo điều kiện sinh hoạt đa đảng tại Việt Nam. Nhưng kỳ thực, việc dấy động một phong trào dân chủ mới chính là hình thái hoạt động dân chủ hóa Việt Nam mà ông nghĩ là hiệu quả hơn cả: Đảng Dân chủ là nơi quy tụ rất đông người tâm huyết cho một ngày mai Việt Nam cất cánh, nhưng chỉ có phong trào dân chủ mới huy động được sức mạnh quần chúng để chấm dứt thể chế độc tài hiện tại.

hmc4-do.jpg

Không phải một mình Ông, mà đã biết bao người cùng chia sẻ ý nghĩ đó.

Từ thế hệ Điện Biên, bao gồm các nhà cách mạng lão thành Lê Hồng Hà, Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng…

Qua thế hệ Trường Sơn, có thể lược điểm những tên tuổi Dương Thu Hương, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Hà Sĩ Phu, Trần Mạnh Hảo, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Ngọc Tấn, Phạm Quế Dương, LM Chân Tín, HT Huyền Quang, HT Quảng Độ, LM Nguyễn Văn Lý, GS Trần Khuê, BS Nguyễn Đan Quế, MS Nguyễn Hồng Quang…

Tới thế hệ Thống Nhất, gồm cả những người ít được nghe nói đến trước đây như TS Nguyễn Quốc Quân; các LS Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Trần Thùy Trang, Bùi Kim Thành…; các bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Lê Nguyên Sang…; các nhà báo Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Vũ Bình, Phan Thế Hải, Nguyễn Bắc Truyễn, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Khắc Toàn…; các nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Lưu Vũ, Trần Khải Thanh Thủy…; các kỹ sư Đỗ Nam Hải, Nguyễn Thế Vũ, Nguyễn Viết Trung…; và cả một tập thể nhiều ngàn bloggers từng được mệnh danh là dám chơi, dám sống, dám nói, dám làm, và dám ra sân… như Anh Ba Sài Gòn, Điều Cày, Hồ Lan Hương, Song Nhi, Trang Hạ, Tạ Phong Tần, vân vân…

hmc1-phs.jpg

Họ là những người không thể uốn cong, không thể mua chuộc và không thể đe dọa. Họ là những người không quen nhau hết cả, nhưng có chung một tâm nguyện vì dân tộc giống nòi, chung một đích đến Việt Nam cất cánh, và chung một con đường Dân Chủ Hóa Việt Nam, y hệt như GS Hoàng Minh Chính.

Chính sự nối kết chung vai sát cánh của cả ba thế hệ đó đã khiến cho lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam âu lo đến mức ra tay cản trở lễ an táng Giáo sư Hoàng Minh Chính, như đã từng làm trong đám tang của cụ Bảy Trấn và tướng Trần Độ trước đây.

hmc5-ca.jpg

Vị Tổng bí thư đảng Dân Chủ vừa mới qua đời, nhưng lý tưởng tự do dân chủ và ý chí quyết tử vì Dân Chủ của Ông vẫn hun đúc tâm can những thế hệ tiếp nối ngày càng trẻ, ngày càng đông, ngày càng giỏi hơn. Quan trọng nhất, ý niệm phong trào huy động sức mạnh quần chúng mà Ông từng cổ suý đã là chất keo gắn bó cả ba thế hệ, và cũng đang là bệ phóng của con tàu Dân Chủ Việt Nam.

Ba thế hệ đó đã sát cánh, đã nắm tay, đã gióng tiếng, đã ra sân, và đã xuống đường.

Chúng ta còn đợi gì mà không nhập cuộc vào phong trào dân chủ hóa, cho một ngày mai Việt Nam tươi sáng rạng ngời?

Lữ Triệu Phong

Tháng Hai 17, 2008

Lời tiễn biệt cuối cùng

của gia đình cụ Hoàng Minh Chính

Trần Thị Thanh Hà

nen.jpg

 

Kính thưa các cụ, các ông các bà, các anh chị và các bạn !

Cho phép tôi được thay mặt gia đình, xin có lời cảm ơn chân thành tới tất cả các quý vị, cơ quan, đoàn thể có mặt hôm nay tại nơi đây đã không quản trời rét buốt, đường xa xôi với tấm lòng và tình cảm chân thành đã tới tiễn biệt cha tôi đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Cho phép tôi được cảm ơn chân thành tới các y bác sĩ bệnh viện Hữu nghị đã tận tình cứu chữa cha tôi trong cơn bệnh nặng.

Cho phép tôi được bầy tỏ lời cảm ơn tới các đảng phái , các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước đã ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ, thăm hỏi cha tôi trong những năm qua, nhất là khi cha tôi lâm bệnh nặng. Những tình cảm quý báu đó là nguồn động viên rất lớn, không thể mua được bằng bất kỳ giá nào đối với cha tôi trong suốt cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền mà cha tôi đã theo đuổi trong cả cuộc đời mình .

Bây giờ xin cho tôi được thay mặt gia đình  nói lời từ biệt cuối cùng với người cha thân yêu.

Ba ơi ! Theo ước nguyện của Ba, hôm nay, tại nhà tang lễ Thanh Nhàn, gia đình đã tổ chức tang lễ cho Ba. Cuộc đời của Ba là một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ và chưa bao giờ chúng con thấy Ba mỏi mệt.Trên đời này có cuộc đấu tranh nào không phải trả giá?  một phần ba cuộc đời của Ba là sống trong tù đầy của nhà tù thực dân Pháp và nhà tù của chế độ xã hội chủ nghĩa .

Con người  Ba, một con người chỉ biết hy sinh mình cho Tổ Quốc : dũng cảm,  thẳng thắn, kiên định trong đấu tranh nhưng chân tình, bao dung, đoàn kết với tất cả mọi người dân lao động.

Mới hơn 10 tuổi, con đã được chứng kiến : vào một ngày trời vô cùng giá rét, Ba mặc một chiếc áo sơ mi mỏng manh lấy xe đạp đi trên các đường phố, để hứng chịu, đồng cảm với cái đói rét của những người dân nghèo   khổ, vô gia cư trong những ngày rét buốt. Lúc đó tuy còn bé nhưng con đã hiểu rằng không bao giờ vì quyền lợi của mình Ba phản bội Nhân Dân Tổ Quốc .

Cả cuộc đời của Ba sau này đã chứng minh điều đó.

Ba ơi, Ba có biết song gió của cuộc đời Ba cũng là song gió của cuộc đời chúng con, gánh nặng trên đôi vai Ba cũng là gánh nặng trên đôi vai Mẹ và chúng con. Không thể kể hết những khó khăn những nhọc nhằn mà Mẹ và chúng con đã phải gánh chịu. Với tình yêu tha thiết của Mẹ đối với Ba mà Mẹ đã cùng sát cánh bên Ba cả cuộc đời, chịu đựng bao khó khăn gian khổ lặn lội đi tiếp tế trong những năm tháng Ba bị tù đầy, Mẹ đã hết lòng hy sinh dữ tron tình nghĩa vợ chồng.  Nhưng rồi chính lòng dũng cảm bất khuất của Ba đã vực mẹ và chúng con dậy, tiếp tục bên cạnh Ba trong cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ.

 Ba ơi ! Ba đã dậy chúng con phải phấn đấu, rèn luyện để trở thành những con người theo đúng nghĩa của nó. Vâng, theo lời Ba dậy, chúng con luôn không ngừng học tập để nắm bắt được những tiến bộ của xã hội, trung thực thẳng thắn trước  mọi song gió của cuộc đời, thương yêu chăm sóc đùm bọc nhau trong những  lúc khó khăn nhất. Đến nay các cháu của Ba đều đã trưởng thành, dần trở thành người có ích cho đất nước Tổ Quốc.

Mẹ và chúng con, đã cố gắng sống xứng đáng với Ba.

Ba ơi ! Ba cứ yên tâm an nghỉ, ước nguyện của Ba về tương lai tươi sáng cho dân tộc Việt Nam nhất định sẽ trở thành hiện thực, bởi vì mỗi  người Việt chân chính đều yêu đất nước của mình, đều muốn phấn đấu cho dân tộc mình tự do, dân chủ, hạnh phúc. Dân tộc Việt Nam sẽ ngẩng cao đầu cùng với những dân tộc văn minh khác.

Ba ơi! Ba cứ yên tâm ra đi, chúng con cùng tất cả họ hàng và bạn bè thân hữu  sẽ thay Ba chăm sóc mẹ . Chúng con sẽ thực hiện những điều Ba nhắn nhủ trước khi nhắm mắt: Phải sống không chỉ vì cá nhân mình mà trên hết là  vì Tổ Quốc.

Ba kính yêu !  vĩnh biệt Ba, Mẹ và chúng con cầu chúc cho  linh hồn Ba thượng lộ bình an trong siêu thoát.  

                                                                                 

Hà Nội, ngày 16-2-2008

Trần Thị Thanh Hà

Nhà tang lễ Thanh Nhàn

 

Tháng Hai 17, 2008

Điếu văn tang lễ

Cụ Hoàng Minh Chính

Pháp danh Chân Tâm

 nen.jpg

Bản văn chính thức do Luật Sư Trần Lâm đọc trong tang lễ ngày 16-2-2008


Kính thưa các cụ lão thành cách mạng.

Kính thưa các cụ, các ông các bà, các anh chị cùng họ hàng gia quyến nội ngoại của cụ Hoàng Minh Chính.

Cụ Hoàng Minh Chính của chúng ta đã từ biệt cõi trần gian vào lúc 23 giờ  8 phút  ngày  7-2-2008  tức ngày 1 tháng giêng năm Mậu Tý  tại bệnh viện Hữu Nghị, hưởng thọ 89 tuổi.

 Hôm nay, tất cả chúng ta có mặt tại đây để từ biệt cụ về nơi an nghỉ cuối cùng. Công cuộc dân chủ hóa Việt Nam hôm nay đã thiếu đi một người anh cả bất khuất. Tầng lớp dân oan thiếu vắng sự tận tình chỉ bảo, bao bọc của một nhà Cách mạng lão thành. Thân hữu thiếu đi một người bạn chí tình. Gia quyến thiếu đi một người chồng, người cha, người ông hết mực thân thương.

Hoàng Minh Chính  là tên gọi khi tham gia cách mạng giành độc lập của người thanh niên yêu nước Trần Ngọc Nghiêm, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1920 tại xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, trong một gia đình Nho giáo yêu nước.

 Cuộc đời con người là hữu hạn, nhưng tinh thần, khí phách của một con người vẫn có thể sống mãi cùng quê hương, đất nước, vẫn là tấm gương lớn cho các thế hệ nối tiếp. Đó chính là cuộc đời của cụ Hoàng Minh Chính.

Cuộc đời của Cụ là một chuỗi dài những tháng ngày đấu tranh, chiến đấu liên tục vì độc lập của đất nước và quyền tự do dân chủ cho dân tộc ngay từ khi là một thanh niên mới 16 tuổi cho đến khi là một cụ già 89 tuổi phải nằm trên giường bạo bệnh. Để biết hết được những gian truân nhưng luôn hào hùng của Cụ sẽ phải cần đến nhiều thời gian và nhiều nỗ lực nghiên cứu trong tương lai. Hôm nay, vào giờ phút xúc động này, chúng ta hãy cùng nhớ đến một vài mốc không thể quên trong cuộc đời Cụ:  

- Năm 1936-1939 Cụ học ở trường Trung học Thăng Long, Cụ  tham gia Đoàn Thanh niên phản đế hoạt động bí mật tại Hà nội . Cụ vào Đảng cộng sản năm 1938.

- Tháng 10/1940 Cụ bị  thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù biệt xứ, 10 năm tù khổ sai.

- Năm 1943 Cụ tổ chức cùng anh em vượt ngục, ra ngoài Cụ đã bắt liên lạc được với tổ chức tiếp tục hoạt động và được tham gia Đại hội quốc dân Tân Trào.

- Cách mạng tháng 8 thành công, Cụ được cử làm Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam .

- Năm 1946 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cụ tự nguyện xung phong chuyển sang công tác quân sự, Cụ đã được Đại Tướng Võ Nguyên Giáp phân công phụ trách mặt trận sân bay Gia Lâm,  tổ chức và lãnh đạo Đại Đội Quyết tử quân,  tập kích nhiều trận vào sân bay, Cụ bị trọng thương.

- Năm 1947,  sau khi ra viện Cụ trở lại công tác Tổng thư ký Đảng dân chủ Việt Nam.

- Năm 1948 Cụ được cử làm Bí thư Đoàn Thanh Niên cứu Quốc Trung Ương,  rồi làm Tổng đoàn Trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

- Năm 1957 Trung Ương Đảng cộng sản đã cử Cụ làm Trưởng đoàn Cán bộ cao cấp của Đảng sang học tại trường Đảng cao cấp ở Liên Xô.

- Năm 1960, Cụ từ Liên Xô về nước, được Đảng cộng sản giao nhiều nhiệm vụ lãnh đạo cấp cao, nhưng Cụ đề nghị được xây dựng Viện Triết học đầu tiên của Việt Nam do Cụ làm lãnh đạo.

- Trong những năm sau, Cụ và một số cán bộ cao cấp của Đảng cộng sản đã nhận thức ra đường lối đổi mới do Liên Xô khởi xướng và đề đạt với Đảng cộng sản cần thiết phải sửa đổi để xây dựng đất nước tiến kịp trào lưu tiến hóa của nhân loại. Nhưng rồi Cụ và những người đồng quan điểm với Cụ đều bị kết tội là “Xét lại chống Đảng”. Cụ đã bị qua 3 lần tù đầy hơn 20 năm trời vừa bị giam giữ và quản chế. Song đến nay, thực tế phát triển của xã hội đã chứng minh rằng những luận điểm của các Cụ hoàn toàn đúng đắn.

Cuộc đời của Cụ là một chuỗi dài những năm tháng đấu tranh gian khổ, chiến đấu liên tục vì nền độc lập của đất nước, và Cụ là một chiến sỹ kiên cường đấu tranh cho tự do dân chủ hóa đất nước, đến tận hơi thở cuối cùng.

Cụ đã nếm trải cả một cuộc đời gian khổ, nhưng Cụ không hề kêu ca thắc mắc quyền lợi cá nhân, không bao giờ luồn lụy. Cụ luôn sống bình dị, lạc quan, sống luôn có ý chí và mục tiêu phấn đấu, không ngừng học hỏi tìm hiểu tiến bộ về mọi mặt của thế giới để đóng góp vào công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước. Cụ là người rất trung thực thẳng thắn, tinh thần tự trọng rất cao, Cụ rất ghét sự dối trá, nịnh hót, luồn cúi.

Suốt trong tù đày gian khổ cũng như thời gian bao cấp cuộc sống rất khắc nghiệt, Cụ không nề hà mọi công việc lao động chân tay và trí óc để kiếm sống, không hề bi quan trước thất bại nào, khiến nhiều người phải cảm phục. Bất kỳ ai, kể cả những người đồng chính kiến hoặc bất đồng chính kiến, thảy đều nể trọng vì cả một quá khứ tham gia Cách mạng của cụ, vì tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất, say mê cống hiến, không sợ khó khăn gian khổ, sẵn sàng hi sinh đến cả tính mạng của mình. Những giây phút cuối cùng nằm trên giường bệnh nặng,Cụ vẫn còn đau đáu lo âu đến công cuộc xây dựng  tự do dân chủ hóa đất nước.

Đối với gia đình, Cụ là người chồng, người cha, người ông mẫu mực, luôn dạy dỗ chăm lo cho sự học hành của con cháu, luôn động viên con cháu phải học giỏi, học mãi không ngừng để đáp ứng được yêu cầu phục vụ Tổ Quốc. Cụ chăm lo cả cho phong trào khuyến học của quê hương.

Cụ rất đồng cảm yêu thương tất cả anh em bạn bè cùng cảnh ngộ, Cụ đau xót những nỗi đau của những người dân bị oan ức, và hết lòng giúp đỡ mọi người.

Cụ luôn luôn muốn đoàn kết tất cả mọi đồng bào kể cả trong và ngoài nước, hướng về xây dựng một đất nước Việt Nam tươi đẹp hơn, tự do dân chủ và hạnh phúc.

Kính thưa quý vị,

Cụ Hoàng Minh Chính đã đến với chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một thanh niên yêu nước, dũng cảm khát khao độc lập cho dân tộc, và Cụ cũng đã từ bỏ chủ nghĩa cộng sản bằng trái tim của một trí thức yêu nước .

Mọi thứ có thể đổi thay nhưng trái tim yêu nước, lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ Hoàng Minh Chính không bao giờ thay đổi.

Ngày 1-6-2006 Cụ đã phục hoạt lại Đảng Dân Chủ với quyết tâm của một trí thức lão thành khát khao tự do, dân chủ cho nhân dân .        Chúng ta tin rằng nguyện ước của Cụ về tự do dân chủ sẽ sớm trở thành sự thật bằng nỗ lực tiếp nối của những người còn lại.

Kính thưa quí vị,

Trái tim yêu nước và lòng tận tụy vì nhân dân của Cụ cũng như tất cả những gì mà cuộc đời Cụ đã trải qua rồi sẽ đi vào lịch sử, Cụ xứng đáng được ghi nhận trang trọng trong trang sử của dân tộc Việt Nam. Hậu thế sẽ phán xét công bằng.

Cụ đã sống xứng đáng một kiếp người, Cụ đã thực hiện được lời của người xưa “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là giàu sang không sa đọa, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục.

Hôm nay vào thời khắc linh thiêng này, chúng ta cùng nhớ tới Cụ, tự hào về Cụ và cầu mong linh hồn Cụ an bình siêu thoát cõi vĩnh hằng.
Xin Vĩnh biệt Cụ.

Đề nghị tất cả các quý vị dành một phút mặc niệm.

Xin chân thành cảm ơn tất cả các quý vị.

 

Hà Nội , ngày 16-2-2008

Đọc tại nhà tang lễ bệnh viện Thanh Nhàn

 

Tháng Hai 16, 2008

Ngẫm mà buồn!

Hồ Lan Hương

 hlh.jpg

Tản mạn đầu năm 2008,

Theo như lời kể của Củ sâm, năm 1961 khi TT Park Chung Hee lên cầm quyền, đất nước Korea hoàn toàn chìm trong đói nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, người dân phải uống nước thay ăn, khoác thêm áo tơi chống rét. TT Park kêu gọi người dân hãy thắt lưng buộc bụng cùng chính phủ đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở toàn bộ đường giao thông từ Bắc xuống Nam Korea, cầu, đường sắt, trồng cây gây rừng, cải tạo điều kiện phát triển từ môi trường đến giao thông nhằm dễ dàng đầu tư phát triển từ đô thỉ đến nông thôn. Người Hàn quốc nhắc đến ông như một tổng thống độc tài nhưng họ ngưỡng mộ và biết ơn ông ấy, tôi có hỏi mấy ông cụ trên 70 người Hàn rằng “thời đó có tham nhũng không?” họ bảo tôi rằng “Chúng tôi rất sạch, sạch từ chính phủ sạch đến dân.” Đất nước Korea lúc ấy đã xuất khẩu từ lính đánh thuê đến người lao động đi khắp nơi trên thế giới và những đồng tiền ngoại hối ấy được đem về đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở và công nghiệp trọng yếu, giải quyết nhà ở cho dân với những quy hoạch tầm xa vài chục năm bởi những nhà tư vấn nước ngoài có uy tín thời đó.

Họ kể cho tôi nghe rằng lúc ấy sáng nào người dân cũng dậy từ tờ mờ sáng để ra quét dọn đường phố, nơi công cộng, ai xả rác đều bị phạt rất nặng và cộng đồng lên án đến phải xin lỗi trước cộng đồng. Ngày chủ nhật thì chính phủ kêu gọi người dân tham gia trồng cây bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, và làm những việc công ích do chính phủ kêu gọi. Lúc ấy cũng không ít lời phàn nàn, nhưng đến năm 70 thì họ đã được hưởng những thành quả do họ đóng góp công sức làm ra. Và tất cả trở thành một khối đoàn kết toàn dân quyết tâm đưa đất nước Korea thoát khỏi cảnh nghèo đói. TT Park chết năm 1973, ông Chun Do Hwan lên nắm quyền Tổng thống, suốt 12 năm cầm quyền, TT Chun đã kiên quyết đi theo con đường của TT Park đang đi, ông đẩy mạnh giáo dục lòng yêu nước của dân Hàn từ con trẻ tới người già: “Dân ta dùng đồ ta sản xuất!” để kích thích nền kinh tế nước nhà, và năm 80, Korea vọt lên tăng trưởng nhanh khủng khiếp về mặt kinh tế với những chính sách mở cửa cho thanh niên du học và đón họ về góp sức cho đất nước bằng những khích lệ vật chất và tinh thần lớn lao. Những bước đi rất vững chắc và trong sạch của chính phủ lúc ấy đã nâng Korea lên biểu tưởng con rồng Châu Á.

Nếu bạn có sang Korea, bạn sẽ thấy, người Hàn họ lao động chăm chỉ như những con ong mật, xuân hạ thu đông đều như nhau. Họ đoàn kết gắn bó với nhau thế nào, họ giúp nhau từng đồng, từng hạt gạo, và những người được giúp không hề ỷ lại, họ cố gắng làm việc gấp hai ba lần người khác để thoát khỏi cái nghèo. Và quan trọng họ không sính ngoại, họ chỉ thích dùng hàng của họ sản xuất ra. Đó cũng là một cách yêu nước.

Trở lại với đất nước Việt nam ta, một đất nước chỉ có một đảng cầm quyền thì chúng ta lại không thể là một khối đoàn kết bởi chính trong Đảng CSVN đã bị phân hoá, chia rẽ bè phái, sự phân rẽ này trở thành một sự phân tán trong chính phủ cai trị. Mạnh ai nấy chiếm cứ hùng phương một trời. Ai cũng cho mình là lãnh tụ cả, “thằng này dốt hơn tao” nên “tao” đúng “mày” sai – hậu quả là luật pháp, chính sách ban hành chồng chéo, dẫm đạp lên nhau gây biết bao hậu quả tai hại cho nền kinh tế nước nhà. Nhưng với cái tư duy làm chủ tập thể nên cuối cùng quả bóng trách nhiệm đá văng đi đâu mất, không “ông quan” nào chịu trách nhiệm hậu quả mình gây ra, nhưng thành tích thì lại vơ vào để biện minh cho những việc vơ vét vào túi riêng như kiểu “Đại công thần”.

Chính những quan chức chính phủ không làm gương tốt thì lấy gì mà kêu gọi dân chúng theo đuổi chính sách mình ban ra??? Quan chức không trung thực thì trách gì doanh nhân làm ăn không trung thực? Chính sách ban hành chỉ bóp nghẹt lấy ai muốn sống trung thực mà thôi, còn những kẻ khéo luồn khéo lách chung chi hối lộ vẫn sống khoẻ thì còn chi gọi là cái đạo dức xã hội nữa?

Hàng hoá thiếu chất lượng, hàng nhái, hàng giả vẫn cứ tràn ngập vì chung chi đủ là ngon lành xuất hiện trên thị trường, trách chi dân ta tin hàng ngoại mà quay lưng hàng nội? Vậy sự kích thích tăng trưởng kinh tế thực sự của đất nước Việt ta đào đâu ra????

Ai đã tạo ra hoàn cảnh người dân với người dân còn khó có lòng tin với nhau? thì đào đâu ra cơ sở để tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc? Ai đã gây ra cái tình trạng suy đồi đạo đức xã hội này? Ai đã đẻ ra cái cơ chế xin –cho như ban bố thời phong kiến? Để cho ngày ngày nhìn thấy bao cảnh chướng tai gai mắt mà không thể gạt bỏ ra khỏi xã hội. Công an giao thông ăn tiền mãi lộ, cán bộ quy hoạch biết quy hoạch để đầu cơ đất kiếm lời, bác sĩ bệnh viện công mắng tát nước vào bệnh nhân, bỏ mặc bệnh nhân ngắc ngoải nếu không tiền đút lót. Thầy cô giáo ăn tiền cho điểm dạy học trò hối lộ khi còn thơ ngây, dạy học sinh giỏi khâu lách luồn. Ăn gian nói dối đã trở thành tính cách của nhiều người Việt. Kiểm dịch Thú y còn ăn tiền gà chết dịch của dân. Hạ tầng cơ sở giao thông rút ruột nát bấy nhầy, bắt một con tốt đem ra xử nhảm, còn để lại hàng loạt vẫn rút ruột đều đều! Và còn nhiều nữa không bút nào tả nổi.

Cứ thế đấy! Cơ quan truyền thông chính phủ chỉ tô hồng mọi sự, lâu điểm xuyết một vài chấm đen để chứng tỏ ta đây tự do ngôn luận, chứ còn đi đến cái tận cùng của sự thật thì đố dám đưa ra, động chạm cả dây cả lò thì bảo rằng sợ mất ổn định chính trị. Mà thực tế thì nó có ổn định đâu mà mất!!!!!

Rõ chán!!!!!!!

 Hồ Lan Hương

Tháng Hai 16, 2008

Hoa Kỳ ngợi ca

ông Hoàng Minh Chính


Đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội Michael Michalak vừa ra tuyên bố ngày hôm nay 15 tháng 2 năm 2008, về sự ra đi của ông Hoàng Minh Chính, nguyên Tổng thư ký đảng Dân chủ Việt Nam.

01mm.jpg

Tuyên bố được đưa ra một ngày trước đám tang ông Hoàng Minh Chính. Bản thông báo báo chí này nêu phát biểu của ông Đại sứ và có các nội dung như sau:

“Tôi rất buồn khi được tin ông Hoàng Minh Chính qua đời. Tôi muốn gửi lời chia buồn sâu sắc nhất của mình đến gia đình ông.”

“Ông Hoàng Minh Chính là một nhà yêu nước chân chính và là một người Việt Nam tự hào. Tôi đã có vinh hạnh gặp ông tháng 12 năm ngoái và đã có dịp bày tỏ sự kính trọng đối với những nỗ lực trọn đời của ông vì đất nước và nhân dân thân yêu của mình.”

“Ông Hoàng Minh Chính đã chiến đấu với căn bệnh ung thư, căn bệnh mà cuối cùng đã lấy đi sinh mạng của ông, với phẩm giá và lòng can đảm cũng như khi ông chiến đấu cho quyền của mọi người dân Việt Nam.”

“Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt trong cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam, ông đã tiếp tục đấu tranh trong suốt đời mình để tiếng nói của những người dân Việt Nam được lắng nghe.”

“Tôi thực sự hy vọng những di sản ông để lại sẽ tiếp tục được phát huy và là minh chứng cho tình yêu và sự tận tâm bất diệt của Hoàng Minh Chính đối với nhân dân Việt Nam.”

02hmc.jpg

Bản thông cáo được công bố gần một tuần kể từ khi ông Hoàng Minh Chính qua đời.

BBC Việt ngữ đã đặt câu hỏi về động thái được cho là hơi chậm trễ này và được bà Angela Aggeler, quan chức phụ trách quan hệ đối ngoại của Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, giải thích:

“Những gì được viết trong bản thông cáo của đại sứ Hoa Kỳ đã tự thể hiện đầy đủ nội dung. Việt Nam vừa có kỳ nghỉ Tết và Toà Đại sứ Hoa Kỳ đóng cửa cho tới Thứ Ba và vừa mở cửa làm việc trở lại.”

Cho nên việc ra thông cáo vào hôm nay, theo bà, là điều bình thường dễ hiểu.

Quan chức đối ngoại này của Sứ quán Mỹ cho biết là bà hiện chưa có thông tin về kế hoạch cụ thể do Phòng Chính trị của Sứ quán phụ trách, về việc Đại sứ có cử người tới dự đám tang ông Hoàng Minh Chính ngày 16.02 hay không.

Nước Mỹ và dân chủ ở Việt Nam

Bà Angela Aggeler cũng cho biết quan điểm của phía Hoa Kỳ đối với phong trào dân chủ tại Việt Nam sau cái chết của ông Hoàng Minh Chính.

Hoa Kỳ luôn nói và hy vọng từng cá nhân mỗi người tại Việt Nam đều được phép bày tỏ quan điểm một cách tự do. Cho dù đó là những quan điểm khác nhau.

Trong chuyến thăm của mình tại Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 2005, ông Hoàng Minh Chính đã nêu ra hai ví dụ mà theo ông là để chứng minh cho hành động đàn áp tôn giáo.

Ông nói rằng hai vị tăng lữ cao cấp của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hoà thượng Thích Quảng Độ và Hoà thượng Thích Huyền Quang, bị quản chế nghiêm ngặt.

Theo ông Hoàng Minh Chính, phong trào dân chủ trong nước cùng các giáo hội tôn giáo lâu nay đã yêu cầu chính quyền Việt Nam phải có đối thoại một cách hoà bình, bình đẳng, văn minh, nhưng không được chấp nhận.

Ông Chính cho rằng những người đấu tranh đòi hỏi phải có dân chủ ngay lập tức

Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thúc giục các nhà lãnh đạo, thúc giục những người mà ngài Đại sứ có dịp trò chuyện, là hãy để cho tất cả người dân Việt Nam được bày tỏ quan điểm riêng của mình một cách tự do.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/02/080215_us_embassy_chinh.shtml

Tháng Hai 16, 2008

Thư gửi Thủ tướng

về việc đội mũ bảo hiểm

Tạ Thị Ngọc Thảo

 tathingocthao.jpg


TÔI THƯA THẬT VỚI THỦ TƯỚNG

Kính thưa Thủ Tướng,

Tôi muốn thưa thật với Thủ Tướng về chuyện “nhằm giảm thiểu chấn thương sọ não, bắt đầu từ 15-12-2007, người đi môtô, xe gắn máy trên các tuyến đường bắt buộc phải đội nón bảo hiểm; nếu không sẽ bị phạt…” – Nghị quyết 32/2007/NQ-CP.

Thưa Thủ Tướng, tôi vẫn nghĩ rằng, trong một đất nước Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, trong sự quản lý của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân thì những gì liên quan đến thân thể của cá nhân, Nhà nước phải hỏi ý kiến người thực hiện trước khi quyết định. Cụ thể ở đây là chuyện đội hay không đội cái nón bảo hiểm trên đầu khi tham gia giao thông. Một Nhà nước có văn hóa là biết thuyết phục dân thực hiện những điều mà Nhà nước thật sự tin rằng có lợi cho dân, cho nước, cho cộng đồng bằng những lý lẽ xác đáng. Và người dân có văn hóa là phải tự nguyện chấp hành những quy định có lợi cho bản thân, cho thân nhân, cho đất nước của mình. Trên thực tế, tình trạng này như thế nào?

Hiện nay, gần hai tuần lễ sau ngày 15/12/2007, dù đội thật hay đội một cách đối phó cũng có đến 95% người tham gia giao thông trên đầu có cái nón bảo hiểm. Và công an giao thông các chốt chặn vẫn đang gí phạt tới nơi tới chốn những người tham gia giao thông không có cái nón bảo hiểm trên đầu. Trong khi doanh nghiệp trong nước thì chưa đủ nguồn cung, chất lượng nón chưa bảo đảm, nơi giữ nón chưa chuẩn bị, tác dụng thật sự của việc đội nón chưa thuyết phục, và không phải ai cũng có sẵn tiền để mua nón… Tất cả những điều đó đã làm người dân lâm vào cảnh không chấp hành thì bị phạt, chấp hành thì ấm ức, dẫn đến tâm không phục, khẩu không lành.

Thưa Thủ Tướng,

Nếu tôi chỉ vì tôi, tôi sẽ không nói thật với Ngài: tất cả rồi sẽ bằng không nếu dân và nhà nước chưa một lòng một dạ. Ngài có biết những người đội nón bảo hiểm đã phân tích: “Gọi nón bảo hiểm là không đúng, vì chấn thương sọ não là chấn thương cái đầu của dân, dân tự chi tiền, dân tự nằm viện, chẳng ai trả tiền thay cho dân mà gọi là bảo hiểm. Gọi nón bảo vệ cũng không xong, bởi một khi tai nạn xảy ra không chỉ có cái đầu bị đụng. Đó là chưa nói, thiếu gì trường hợp đội nón vẫn mất mạng. Thế mà Nhà nước hết bắt buộc, đến giam xe, rồi bây giờ là phạt nặng nếu không đội nón bảo hiểm. Bảo hiểm gì, bảo… đội thì có”!

Tôi thiển nghĩ, chính sách đúng, phải là chính sách thuận lòng dân. Chính sách thuận lòng dân trong việc bắt buộc người tham gia giao thông đội nón bảo hiểm là trước khi ban hành Nhà nước phải tiến hành điều tra nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học và trung thực. Cụ thể là, trong số người chết vì tai nạn giao thông, cần tách bạch: có bao nhiêu trường hợp do hệ thống đường xá chưa bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế và dân số (tầm nhìn), do việc quản lý giao thông yếu kém, do quy hoạch và quản lý đô thị bất cập, do những công trình thi công chậm chạp chiếm lồng đường… – nghĩa là lỗi về phần nhà nước; bao nhiêu trường hợp do lỗi của người tham gia giao thông? Trong số những người bị nạn, có bao nhiêu người chết vì chấn thương sọ não.

Không chỉ có vậy, các thị trường liên quan đến lệnh bắt buộc đội nón bảo hiểm cũng phải được dự đoán, như: Thị trường nón vải, du lịch, quần áo thời trang, ngành tóc (uốn, cắt, keo, Gel, mouse, kim tuyến, kẹp, nơ…), vì với cái nón bảo hiểm trên đầu, người đội sẽ phải hy sinh nhiều thứ riêng tư trong đó có tóc, nón, mặc, đi lại, mua sắm… Về phía người bán hàng, sản xuất, cung cấp các dịch vụ về nón vải, mặc, thời trang tóc, quần áo…, họ sẽ gặp những khó khăn gì, họ chuyển nghề ra sao, Nhà nước hỗ trợ được gì cho họ. Đó là chưa đề cập, trong góc nhìn của du khách, nhất là du khách nước ngoài, hàng đoàn người nam, phụ, lão, ấu rầm rập ngoài đường với cái nón bảo hiểm trên đầu; có chắc gì khách du lịch sẽ đáo lại để ngắm một đất nước có con người và cảnh quan như vậy?

Thưa Thủ Tướng,

Người Việt Nam nào cũng biết, đội nón bảo hiểm khi đi xe gắn máy là chuyện bình thường ở nước bạn, nhưng lại không bình thường của nước ta. Tại sao ư? Tại vì nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế xe gắn máy! Nếu nước bạn tỉ lệ người tham gia giao thông trên đường xá bằng ô tô và các phương tiện giao thông công cộng chiếm 80% đến 90% thì ở nước ta con số đó bị đảo chiều, chủ yếu là xe gắn máy! Hiện nay cả nước có đến khoảng 20 triệu chiếc xe gắn máy, ước tính theo xác suất thống kê, nghĩa là có đến hơn 30 triệu người đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông; chiếm gần 40% dân số nước mình.

Trong khi tốc độ giao thông của nhiều nước bạn từ vài chục đến trên trăm km/h thì nước ta, ở ngoại thành, tốc độ chỉ còn khoảng vài chục km/h và nội thành có lúc chỉ khoảng 5 đến 10km/h. Hơn nữa, tại thời điểm này kẹt xe đang là vấn nạn xã hội. Với một thực trạng như thế liệu nón bảo hiểm có phát huy được tác dụng khi mà người tham gia giao thông đội nón vào rồi ra đường đứng hoặc nếu xe chạy thì chỉ nhanh hơn đi bộ? Vậy, có nên áp dụng những quy định riêng biệt cho giao thông nội thị và giao thông ngoại thành trong chuyện đội nón bảo hiểm không, thưa Thủ Tướng? Tôi hình dung đề nghị này sẽ đặt ngài trước những khó khăn, nhưng thưa Ngài, người dân đủ sáng suốt để nhận định tất cả.

Ngày nào đó, xin mời Thủ Tướng hãy lên một cao ốc ở trung tâm Hà Nội hoặc TP.HCM rồi nhìn xuống đường, tôi tin Ngài sẽ lặng người khi thấy cả phố xá như một đại công trường người người đội cái nón bảo hiểm vô cảm chầm chậm di chuyển giống người máy. Chắc Ngài cũng như tôi, tự hỏi, hồn của phố đâu rồi? Nếu tiện chân, Ngài hãy tìm đến nơi gởi xe để biết rằng có nơi nhận gởi nón, có nơi không; nếu nhận thì tiền gởi nón mắc hơn gởi xe – gần bằng tiền mua 1 ký gạo.

Nếu rỗi rãi, Ngài hãy dạo quanh trong nội thành một số thành phố lớn để thấy nhiều cảnh tượng dở khóc dở cười: dân mình có những người dạo bộ trên phố tay trong tay với người thân nhưng trên đầu vẫn đội cái nón bảo hiểm bởi không biết giấu nó vào đâu. Đi bộ mua sắm, đi dạo chợ hoa, đi rão hội chợ, tụm năm tụm ba chơi lễ, đi sinh hoạt cộng đồng, hoặc ngồi trong quán ăn, quán nước, không ít người nếu đầu không đội nón bảo hiểm thì tay cũng khệ nệ ôm nón. Có thể vì tiếc tiền gởi nón, vì thiếu tiền gởi nón hoặc vì không tìm được nơi nhận giữ nón, cho nên phải “đồng hành cùng nón bảo hiểm” (khẩu hiệu) mọi lúc, mọi nơi.

Thủ Tướng là người từng trãi, đi nhiều, biết nhiều, ngài đã từng chứng kiến cảnh này chưa chớ tôi thì từ hồi cha sanh má đẻ đến nay thiệt tình, mới thấy lần đầu!

Thưa Thủ Tướng,

Cũng như những người dân Việt Nam khác tôi dõi theo Ngài rất kỹ. Tôi biết Ngài là người quyết đoán, quyết liệt. Việc gì Ngài đã quyết là phải làm tới nơi tới chốn. Cá tính đó làm tôi ngưỡng mộ, nó thể hiện bản lĩnh của người lãnh đạo. Nhưng, thưa Ngài, riêng chuyện bắt buộc người tham gia giao thông bằng xe gắn máy trong nội thị phải đội nón bảo hiểm tôi mong Ngài nghĩ lại:

Tại sao dẫn đến vấn nạn kẹt xe, bao giờ chấm dứt vấn nạn này? Tại sao tai nạn giao thông năm sau cao hơn năm trước, nguyên nhân nào gây ra hậu quả này, trách nhiệm này thuộc về ai? Cho đến nay, Nhà nước vẫn nợ dân một câu trả lời chân thành, công khai, minh bạch.

Tại sao trước khi ban hành Nghị quyết 32 Ngài không đặt hàng cho một Viện nghiên cứu độc lập phân tích lợi, hại của việc đội nón bảo hiểm cho người đội và cho cả nền kinh tế, rồi lấy số liệu đó thuyết phục người dân của mình, thay vì chọn giải pháp “giam xe, rượt đuổi, bắt buộc, rồi phạt nặng”, như hiện nay?

Ngay cả cha mẹ sanh con ra, cực khổ nuôi con lớn cũng phải tôn trọng sự riêng tư của con mình, rất ngần ngại ép con mặc cái quần, cái áo hoặc đội cái nón do cha mẹ mua sắm. Thiết nghĩ, Thủ Tướng không phải là cha mẹ dân, ép cái gì lên thân thể của người khác lại buộc họ bỏ tiền ra sắm thì phải có lý lẽ xác đáng, có như thế mới mong nhận được sự đồng tình, hậu thuẫn của người thực hiện.

Thưa Thủ Tướng, sanh ra và lớn lên trong nội thành, tôi biết và nhớ như in, những cuộc biểu tình ở Sài Gòn trước ngày giải phóng do những người Cách mạng lãnh đạo cũng bắt đầu từ câu chuyện dân sinh, giống như chuyện đội nón bảo hiểm của ngày nay vậy.

Kính chúc Thủ Tướng khỏe mạnh.

Kính thư

Tạ Thị Ngọc Thảo

Tạ Thị Ngọc Thảo – Tổng giám đốc Công ty T.T.N.T. không chỉ là tên của một nữ doanh nhân thành đạt mà còn là một “thương hiệu” trong thị trường bất động sản, đại biểu chính thức đại diện cho doanh nhân Việt Nam tại Hội nghị APEC 14. Là người nổi tiếng “nói năng trực tính và gay gắt”, nhưng lại là người có nhiều ý tưởng và giải pháp nhân văn trong kinh doanh.

 

Tháng Hai 15, 2008

Hoàng Minh Chính, một biểu tượng

Ngô Nhân Dụng

 hmc.jpg

Cảnh công an chạy đôn chạy đáo lo ngăn chặn nhiều người đến dự đám tang cụ Hoàng Minh Chính chứng tỏ cụ là một người lúc sống đã làm cho cộng sản sợ, mà khi chết vẫn làm cho họ lo. Cụ Hoàng Minh Chính vẫn khiêm tốn không muốn ai đề cao vai trò “anh cả của phong dân chủ” như mọi người vẫn gọi cụ. Cá nhân Hoàng Minh Chính không đáng kể. Nhưng Hoàng Minh Chính đã trở thành một biểu tượng. Và đó là lý do đảng Cộng Sản Việt Nam sợ.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã tìm mọi cách ngăn cản người muốn đến dự đám tang, với những hành động lỗ mãng và tàn bạo. Họ đặt công an chìm nổi đứng canh từ cửa nhà, từ góc phố cốt đe dọa cho người ta đổi ý. Họ theo dõi và cản trở những người từ các nơi xa về Hà Nội dự đám tang. Trước hôm tang lễ một ngày mọi người còn không biết Hòa Thượng Thích Không Tánh đang ở đâu, trên con đường từ Huế ra Hà Nội để cầu siêu cho cụ Hoàng Minh Chính, người đã nhận pháp danh Chân Tâm do hòa thượng ban cho. Ngoài việc ngăn cản những người đã tranh đấu cho dân chủ tự do vẫn bị công an theo sõi sát bên hàng ngày, nhiều nhân viên cao cấp trong Bộ Công An còn đến từng nhà những người có uy tín ở Hà Nội để hỏi thăm người đó có định dự đám tang của cụ Hoàng Minh Chính hay không!

Hoàng Minh Chính đã trở thành một biểu tượng. Ông là một đảng viên cộng sản đã từng tin theo chủ nghĩa Mác Xít từ khi chưa 20 tuổi, vì tin tưởng nên gia nhập đảng Cộng Sản, tham gia kháng chiến, lập những chiến công nổi tiếng một thời như trận đánh phi trường Gia Lâm của Pháp. Cụ theo đảng Cộng Sản vì nghĩ đó là con đường duy nhất dẫn tới độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Nhưng sau cùng cụ Hoàng Minh Chính dù đã từng là viện trưởng Viện Triết Học Mác Lê-nin, đã tìm thấy sự thật, thấy rõ sau khi đã đưa đất nước vào tình trạng nghèo khổ nhất trong vùng Ðông Nam Á, đảng Cộng Sản đã chạy theo tư bản để hiện nguyên hình một nhóm tham quan ô lại chỉ lo bảo vệ quyền hành.

Hoàng Minh Chính là tiêu biểu cho những đảng viên Cộng Sản phản tỉnh, tích cực vận động cho tự do dân chủ để xóa đi một chế độ độc tài đảng trị mà mình có thời đã góp sức dựng lên. Có hàng trăm ngàn người, có thể hàng triệu đảng viên Cộng Sản cũng suy nghĩ như cụ Hoàng Minh Chính, cũng muốn đưa dân tộc thoát khỏi gông cùm chuyên chế, nhưng họ chưa thể nói lên sự thật. Chính vì thế, đảng Cộng Sản Việt Nam không muốn đám tang Hoàng Minh Chính trở thành một điểm tụ họp, không những quy tụ các nhà tranh đấu đòi dân chủ mà còn thu hút cả những đảng viên Cộng Sản lớn tuổi muốn tới chia sẻ với nhau những tâm sự vào lúc cuối .

Tại sao đảng Cộng Sản sợ một người đã chết như vậy? Vì họ sợ sự thật.

Sự thật, là những người như thuộc thế hệ Hoàng Minh Chính đã tỉnh ngộ, nhìn thấy con đường theo đảng Cộng Sản là sai lầm. Hàng trăm ngàn đảng viên Cộng Sản muốn bày tỏ ý nghĩ đó, bằng những hành động như cụ Hoàng Minh Chính, nhưng chưa có cơ hội. Ðảng Cộng Sản sợ nhất là những người thuộc thế hệ Hoàng Minh Chính, và thuộc thế hệ trẻ hơn, sẽ truyền đạt nỗi thất vọng sâu xa và niềm ân hận của họ cho thế hệ các thanh niên biết, và sinh lòng muốn tìm hiểu rõ hơn. Lớp trẻ ngày nay lớn lên sau khi cuộc chiến tranh lạnh đã chấm dứt, đối với họ những vấn đề ý thức hệ không có nghĩa lý gì cả. Họ không thể hiểu được tấm lòng hăng hái của thế hệ Hoàng Minh Chính khi đi theo Cộng Sản, do đó họ cũng không hiểu được tâm trạng bi thương não nề của thế hệ đó khi biết mình đã bị lừa bịp khuông phò một lũ tham ô! Có một khoảng cách về truyền thông giữa lớp tuổi ông bà nội thời 1940 và thế hệ các cháu 20, 30 tuổi bây giờ. Ðảng Cộng Sản không muốn khoảng cách đó được lấp đi, nối liền lại.

Những mạng lưới tin điện tử bùng nổ trong mấy năm qua đã cho thấy người dân Việt, nhất là các thanh niên, sinh viên, không còn sợ cường quyền như thế hệ cha anh của họ nữa. Nếu không có những mạng tin và blog qua hệ thống Yahoo 360 thì chắc không ai huy động được những đám đông hàng trăm người biểu tình trước tòa đại sứ và lãnh sự Trung Quốc đòi trả lại các hòn đảo ở Hoàng Sa.

Các thanh niên, trí thức trong nước mang nhiều nỗi bất bình với chính quyền cộng sản, nhưng họ cũng chỉ nhìn thấy những tệ nạn tham nhũng, họ chán cảnh một chính quyền hèn nhát nhượng đất cho ngoại bang. Họ vẫn chấp nhận sự có mặt của một đảng và một guồng máy cai trị do thế hệ trước để lại, không dám nghĩ đến nhu cầu thay đổi. Họ không thấy cần nhìn xa về quá khứ để biết thế hệ cha mẹ, ông bà của họ đã bị đảng Cộng Sản lừa gạt ra sao cho nên mới có thảm cảnh ngày nay. Nếu những người trẻ tuổi khám phá ra tâm sự của những người như Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Lê Hồng Hà, cho tới lớp trẻ hơn như Hoàng Tiến, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Khải Thanh Thủy, vân vân, thì chính các thanh niên chủ trương các mạng lưới, các blog sẽ đặt câu hỏi về vai trò của đảng Cộng Sản trong lịch sử, họ sẽ tìm hiểu, và từ đó những tội lỗi của đảng Cộng Sản sẽ bị phơi bày. Ðó là một lý do đảng Cộng Sản Việt Nam tìm cách ngăn chặn để đám tang cụ Hoàng Minh Chính càng ít người dự càng tốt, để không được ai chú ý tới.

Nhưng không thế lực nào ngăn chặn được những tin tức và ý kiến lan truyền trong thời đại này. Một tờ báo trên mạng ở Việt Nam dám viết thẳng những lời bàn của ông Nguyễn Ðình Ðầu, nói rằng: “Người dân Sài Gòn có ý thức về dân chủ sớm hơn so với cả nước.”

Có thể coi đó là một ý kiến bình thường về biến chuyển chính trị trong xã hội nước ta. Nhưng phải nhìn sâu những biện giải đằng sau ý kiến đó mới thấy đây là một lời lên án chế độ Cộng Sản. Ông Nguyễn Ðình Ðầu giải thích lý do tại sao dân Sài Gòn có ý thức dân chủ sớm, ông nói, “Người Pháp dành cho Nam Bộ quy chế như một nước dân chủ.” Có ai tin được điều đó hay không? Nếu Nam Bộ thời Pháp thuộc sống như một nước dân chủ thì tại sao có Nguyễn An Ninh, có Tạ Thu Thâu, tại sao dân miền Nam lai nổi lên thành Nam Kỳ khởi nghĩa?

Người đọc có thể đoán ra một điều ông Nguyễn Ðình Ðầu không dám nói thẳng, là nhờ chế độ Việt Nam Cộng Hòa có tính chất dân chủ được áp dụng ở miền Nam trong 20 năm, cho nên tinh thần tự do dân chủ mới còn sót lại cho đến ngày nay. Và đó là một cách ngấm ngầm lên án chế độ độc tài chuyên chế đã áp dụng ở miền Bắc Việt Nam từ 1954 cho tới bây giờ. Cuộc sống người dân miền Bắc vĩ tuyến 17 chuyển từ thời Pháp thuộc sang thời cộng sản, chưa bao giờ được nếm mùi tự do dân chủ, cho nên ý thức dân chủ không thể cao bằng dân Sài Gòn.

Ðể so sánh hai chế độ Cộng Hòa và Cộng Sản, ông Nguyễn Ðình Ðầu còn nói thẳng về tình trạng con người Sài Gòn sống trong chế độ “xã hội chủ nghĩa” hiện nay: Họ thiếu ý thức tôn trọng của công, thường xuyên vi phạm luật giao thông và phá hoại vệ sinh công cộng. Ông nói, “Trước đây giao thông ở Sài Gòn trật tự, người dân đi đứng có văn hóa, con trẻ lễ phép, đi thưa về trình. Bây giờ những thói quen đó đã bị mất.”

Ai làm cho dân Sài Gòn mất những phong tục thuần nhã? Ông Nguyễn Ðình Ðầu, cũng như cụ Hoàng Minh Chính, biết câu trả lời: Chỉ vì chế độ Cộng Sản do Hồ Chí Minh đem từ bên Nga bên Tàu về áp dụng, đã hủy hoại phong hóa dân tộc. Ngay từ năm 1975 người miền Bắc vào Nam đã nhận thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trẻ em lễ phép hơn, thầy giáo cô giáo có đạo đức mô phạm hơn, công chức ít ăn hối lộ vì sợ luật pháp hơn, người bán hàng nói dối ít hơn, con người đối xử với nhau có tình có nghĩa hơn. Nhưng cũng ngay từ năm 1975, nhiều người từ Hà Nội vào Sài Gòn đã cảnh cáo: Thế nào rồi Sài Gòn cũng đuổi kịp Hà Nội – trên con đường đi xuống!

Nói như vậy không có nghĩa là ở miền Bắc mọi phong hóa, đạo lý cổ truyền đã hoàn toàn bị chủ nghĩa cộng sản tiêu diệt. Có những tấm gương trong đời sống các cụ Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Lê Hồng Hà, chẳng hạn. Họ vẫn sống như các nhà Nho thủa trước, sống ngay thẳng và trong sạch suốt đời, tới khi nhắm mắt vẫn không ngừng tranh đấu cho đất nước được tốt đẹp hơn.

Bây giờ, ý thức tự do dân chủ sẽ là ngọn lửa thổi lên tinh thần tranh đấu của người dân trong nước. Trong ngày tang lễ cụ Hoàng Minh Chính, xin bày tỏ lòng kính trọng những người như cụ, đã tìm về với lẽ phải và về với nhân dân, không bám lấy quyền lợi mà đảng ban phát, thẳng thắn từ bỏ quá khứ cộng sản của mình để đòi tự do dân chủ cho tất cả mọi người Việt Nam. Cầu nguyện hương linh cụ từ nay được thanh thản bình an. Cụ đã sống suốt đời với một tấm lòng yêu nước, và cho đến cuối đời vẫn tranh đấu cho đồng bào được sống hạnh phúc hơn trong một xã hội tự do dân chủ. Mong các bạn trẻ ở nước ta sẽ tìm hiểu để lấy cuộc đời cụ làm một tấm gương noi theo. Ðược như vậy thì cụ sẽ tạo nên một biểu tượng cho tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam.

Ngô Nhân Dụng

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=73954&z=7

Tháng Hai 14, 2008

NHỮNG BỨC TƯỜNG

BERLIN Ở VIỆT NAM

Nguồn: diễn đàn xcà

Bài viết này tôi xin gửi đến các bạn trẻ đồng trang lứa của tôi, nhằm kêu gọi các bạn, trong thời kỳ mà Việt Nam phải đổi mới trước xu thế Toàn cầu hóa. Đối với những người quá rõ về Cộng Sản chắc cũng đã quá quen với lý luận này nhưng tôi vẫn phải nói lại một lần nữa với những ai đang còn chưa biết hay còn mê muội do bị Cộng Sản nhồi sọ. Cám ơn những ai đã đọc những gì tôi cố gắng trình bày trong bài viết này. Tôi cũng xin cám ơn ba tôi, mẹ tôi là những người khai sáng và dìu dắt tôi trong công cuộc đấu tranh “làm đẹp” quê hương nầy. Kế tiếp đó là các bậc tiền bối như linh mục Nguyễn Văn Lý, linh mục Phan Văn Lợi, nhà văn Dương Thu Hương, ông Hoàng Minh Chính, tướng Trần Độ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, anh Nguyễn Tiến Trung, chị Lê Thị Công Nhân… và nhiều nhân vật khác nữa đã và đang góp phần đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa Việt Nam. Và một nhân vật không thể quên đó là Thomas L.Freidman – tác giả cuốn “Chiếc Lexus và cây Ô liu” (các bạn nên tìm đọc nhất là các sinh viên kinh tế).

Ai ai trong chúng ta cũng biết công dụng của bức tường trong đời sống thực tế là gì. Vấn đề ở đây tôi cũng chỉ dùng hình ảnh đơn giản mà Thomas L. Friedman đã xử dụng để đưa vào vấn đề Việt Nam hiện nay.

Bức tường, cũng chỉ đơn giản là một khối rắn để che chắn một cái gì đó từ bên ngoài hoặc từ phía nào đó nhằm bảo vệ một mục đích hay một ý đồ nào đó. Nhà tôi cũng như nhà các bạn(ở Việt Nam) xây tường rào cũng chỉ để chống trộm, để làm ranh giới… Tôi dùng hình ảnh bức tường Berlin vì nó quá nổi tiếng trong các bức tường mà con người biết đến ( hiện nay là dãi Gaza – cũng tương tự một bức tường) và nó có những ý đồ chính trị to lớn.

Vậy những bức tường Berlin ở Việt Nam là đâu? Nó có tác dụng gì? Ai đã dựng ra nó? Kết quả thế nào? Đó là những câu hỏi mà hôm nay tôi đặt ra sau khi kết thúc bài tham luận của mình. Để từ đó nhìn nhận vấn đề chung ở Việt Nam một cách rộng hơn, khái quát hơn.

Thomas L. Friedman đã nói: “…mỗi người đều cần phải trao đổi thông tin từ nhiều nguồn có cái nhìn khác nhau, chắp nối chúng lại để dệt nên một bức tranh toàn cảnh thế giới. Nếu chỉ nhìn từ một hướng, người ta sẽ không thể vẽ được một bức tranh toàn cảnh. Đó là cốt lõi của “trao đổi thông tin.”. Chính vì thế tôi cố gắng nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều mà tôi có thể, nên tôi mới thấy những bức tường Berlin chứ không phải chỉ một bức tường Berlin.

Trước tiên ta hãy xem Thomas L. Friedman nhìn nhận về hình ảnh những bức tường Berlin một cách tổng quát trong cuốn Chiếc Lexus và cây Ô liu: “thế giới của Chiến tranh Lạnh tựa như một cánh đồng lớn bị xé lẻ dọc ngang bởi những hàng rào, tường chắn, hố sâu và ngõ cụt. Người ta không thể đi nhanh, đi cho hết được cánh đồng mà không bị những thứ như tường Berlin hay bức màn sắt hay khối Vacsava hay các hàng rào thuế quan hay kiểm soát tài chính, cản chân. Và trong khuôn khổ từng lô đất trên cánh đồng đó, các quốc gia gìn giữ các thể loại chính trị, kinh tế và văn hóa độc đáo của họ. Họ có thể thuộc về thế giới thứ nhất, thứ hai hay thứ ba. Họ có thể duy trì các hệ thống kinh tế khác nhau – một nền kinh tế cộng sản theo kế hoạch của nhà nước, một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hay một nền kinh tế thị trường tự do. Và họ cũng duy trì các hệ thống chính trị khác nhau – bao gồm từ mức dân chủ tới mức độc tài, từ mức toàn trị đến quân chủ lập hiến rồi áp chế toàn phần.”. Friedman đã nhìn nhận ngay sau đó rằng: “các bức tường này khó có thể phá nổi.”

Về vấn đề Việt Nam thì trước mắt tôi đã thấy được 3 loại tường mà phải nói rằng hũng vĩ nhất vẫn đang còn hiện hữu một phần hay toàn phần tại Việt Nam (nói thế thôi chứ chưa hùng vỹ bằng Vạn Lý Trường Thành đâu nhé!). Và 3 bức tường này tôi dựa theo 3 loại dân chủ của Friedman nêu trong cuốn Chiếc Lexus và cây Ô liu.

+ Thứ 1 – Bức tường THÔNG TIN.

Có nghĩa là gì? Có nghĩa là bức tường này đã hạn chế luồng thông tin từ bên ngòai vào. Nhiều lúc phải nói rằng cô lập thông tin (nội bất xuất, ngoại bất nhập). Loại này tôi đành phải chỉ rõ những bức tường nào thuộc loại này nữa chứ không thể chung chung ở mức này được.

a. Bức tường Internet ( hay tường lửa – FireWall): Tại Việt Nam thì tình hình hiện nay, tính theo đầu người thì phần trăm dân số biết đến Internet là rất thấp (có thể xem kỷ thông kê trên trang web của Liên Hiệp Quốc). Chi tiết hơn thì trong số đó, số người vào Internet đa phần là để chơi game online. Thành phần vào Internet để tìm kiếm thông tin cũng như tìm hiểu về các vấn đề thời sự trên thế giới lại chiếm phần thiểu số. Đó mới là điều đáng lo ngại. Đã vậy, chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đang hạn chế người dùng Internet ở dịch vụ bằng những luật mà người dân Việt Nam nhiều lúc khóc đi được(sử dụng internet phải khai báo CMND – hoặc người lớn bảo lãnh nếu dưới 18 tuổi). Không những thế lại còn dựng nên một bức tường lửa (FireWall) ngăn chặn các thông tin từ các Website ở nước ngòai. Và còn có cái loại hình CÔNG AN MẠNG. Một câu hỏi đặt ra: Vì sao phải làm như thế hả …? Ai sẽ trả lời câu hỏi này? Có một chuyện rất nhỏ như thế này. Hôm đó thằng bạn tôi đang online trên Yahoo! Thì nó pm ( nhắn tin) cho tôi và nói rằng: “Mày tìm cho tao tài liệu về giải thuật Prime nhé?” Chắc các bạn biết chúng tôi học nghành gì rồi chứ. Tôi mới bảo anh ta: “Mày vào google.com.vn tìm kiếm giúp tao cái đi. Đó là đại học tại nhà của tao đấy…!”. Một sinh viên nghành CNTT mà còn lẩm cẩm và chậm chạp đến mức như thế, thì tốc độ phát triển thông tin làm sao theo kịp với thế giới được, huống hồ gì dân thường. Qua đó, các bạn cũng thấy rằng, đây là một bức tường đang hiện hữu một cách vô hình, nhưng tác động của nó đến luồng trí thức mới vào Việt Nam gặp nhiều trở ngại nhiều đến mức nào.. Việc xử lý nó như thế nào thì tôi nhường quyền lại cho các bạn đôc giả.

b. Bức tường Giáo Dục: Thời điểm này là thời điểm nóng nhất của nền giáo dục Việt Nam. Nền Giáo dục gặp nhiều bất trắc cũng phần nào là do yếu tố xây đắp lên bức tường này. Đồng thời, những tinh hoa của các nền giáo dục của các nước bạn không được Chính phủ Việt Nam quan tâm. Hiện tại đang chấp vá với những chỗ rách trầm trọng. Mà vá thí sẽ tiếp tục rách, tức là chỉ giải quyết tạm thời. Chính báo chí cũng như truyền hình của chính phủ cũng lên tiếng rất dữ dội về hiện trạng này. Chính vì lẽ đó, sinh viên và học sinh Việt Nam bị ngăn cản với nền giáo dục thế giới (có thể nói là toàn cầu lúc này). Bằng cấp Việt Nam trở nên vô giá trị khi ra thế giới. Bố tôi đã từng làm tại công ty dầu khí Việt Nam – PVD (Petro VietNam Drilling). Đã tiếp xúc với các nguồn nhân lực (chức danh kỹ sư – engineer) của nghành dầu khí. Và ông chứng kiến một chuyên viên (chưa mang chức danh kỹ sư) nước ngòai điều phối – chỉ đạo kỹ sư Việt Nam trong các công việc chuyên môn. Hỏi ra mới biết nguyên nhân: kỹ sư Việt Nam không có đủ tay nghề đế sánh với chuyên viên nước ngoài (chiếm đại đa số – không vơ đủa cả nắm). Kỹ sư thì rõ là thua xa. Hiển nhiên đồng lương của nhân lực Việt Nam rẻ bèo (đây là một tủi nhục cho toàn dân tộc). Chính các kỹ sư Việt Nam thú nhận đại khái rằng: “Ở Việt Nam, học ở đại học gần như không cho họ những thứ cần thiết đáng ra họ phải thẩm thấu trước khi bước vào thực tế.”(dĩ nhiên là có một số nghành vẫn tốt – nhưng chưa thấm vào đâu so với yêu cầu quốc tế trong thời đại Toàn cầu hóa hiện nay). Đây là một bức tường mà tôi thiết nghĩ rằng, các bạn không thể có một lý do nào xác đáng để chứng minh nó không hiện hữu. Nếu đã tồn tại, thì đây là một bức tường khó có thể phá vỡ nếu chính phủ Việt Nam cứ tiếp tục vận hành đất nước theo kiểu này. Rõ ràng người dân gần như mù tịt các thông tin trong lẫn ngoài nước khi 2 bức tường này “bảo vệ” toàn dân.

c. Bức tường Chân Không: Tại sao tôi lại dùng chân không để đặt cho bức tường này. Các bạn biết đó. Âm thanh không thể truyền qua được chân không (tôi tính nói là bức tường Âm Thanh đấy). Điều đó ngụ ý điều gì. Hiện nay, các cuộc biểu tình của công dân Việt Nam đang phát ra những tiếng nói, những phản ánh cũng như khiếu nại nhiều lúc đã đảo. Chính phủ đang làm ngơ điều đó. Nói thẳng ra thì chính phủ chẳng hề nghe thấy, nếu có nghe cũng chẳng cần quan tâm. Các nhu cầu về đất đai nhà ở của nhân dân gần như không tới tai các vị có chức sắc cấp cao. Cũng như các nhu cầu về điều kiện cơ sở hạ tầng của xã hội. Đuờng xá bị xuống cấp. Tình trạng ô nhiễm tại thành phố báo động đỏ. Đã có phát biểu của một “bố già” nào đó về tình hình kẹt xe tại Sài Gòn như sau: “Chúng ta phải sống với tình trạng kẹt xe trong nhiều năm nữa”. Nói như vậy có nghĩa là các vấn đề này không được chính phủ giải quyết cấp bách, trong khi đó là vấn nạn đang gặp phải tại Sài Gòn. Đừng nói với tôi rằng nhân dân không lên tiếng nhé!. Chẳng qua chính phủ không hề lắng nghe những gì từ phía nhân dân bởi chính bọn họ đã dựng nên bức tường này.(Nhà nước do dân và ví dân – nghe mà thấy hoành tráng thật).

Thêm một vấn đề quan trọng trong loại tường Thông tin này mà tôi không biết phải nói với các bạn nó có tên là loại tường gì nữa. Đó là việc báo chí cũng như truyền thanh truyền hình thuộc về quyền kiếm soát của nhà nước. Hãy tiếp tục hỏi mình tại sao nhé. Tức là tại sao không có báo chí tư nhân, không có truyền hình tư nhân. Vấn đề này thật đáng lên án.

Trong cuốn Chiếc Lexus và cây Ô liu thì Friedman có nói về vấn đề mà ông đặt tên nó là dân chủ thông tin. Ông kết thúc cho khái niệm của chính ông về loại hình dân chủ này rằng: “Kết hợp toàn bộ các yếu tố dân chủ hóa thông tin ta thấy các chính phủ ngày nay không còn có thể bưng bít dân chúng của họ về những gì xãy ra bên ngoài lũy tre làng hay biên giới của đất nước. Thông tin về cuộc sống ở bên ngoài không còn bị bóp méo hay bôi xấu. Thông tin về cuộc sống trong nước không còn bị tô vẽ theo lối tuyên truyền. Nhờ quá trình dân chủ hóa thông tin, chúng ta càng thấu hiểu hơn cuộc sống của đồng loại – dù cho đất nước có nằm ở nơi nào xa xôi và cô lập. Mỗi khi bạn tạo dựng một bức tường dày hơn, cao hơn để lẩn trốn, bạn sẽ thấy có những công nghệ len lách hoặc vượt trên bức tường đó mang thông tin đến với bạn. Mỗi khi bạn vẽ một ranh giới trên cát để tự bao bọc, công nghệ sẽ tìm cách xóa nhòa ranh giới đó. Raul Valdes Vivo, Hiệu trưởng Trường Đảng của Cuba mang tên Nico Lopez, Havana giải thích rất hay về chuyện này trong cuộc phỏng vấn với báo National Geographic (6-1999). Khi được hỏi về những khó khăn mà đất nước Cuba gặp phải khi cố duy trì các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời áp dụng một số phương pháp tư bản để tồn tại, ông ta nói vui: “Cuba không còn là một hòn đảo. Không có hòn đảo nào trên thế giới này nữa. Tất cả là một thế giới duy nhất””.

Vì thế chắc các bạn cũng biết phải làm gì rồi chứ. Đó là chúng ta phải dân chủ hóa thông tin theo như nhận định của Friedman. Tức là phải đánh đổ bức tường này. Lợi ích thì các bạn biết quá rõ. Và chúng ta đi vào loại bức tường thứ 2.

+2. Bức tường TÀI CHÍNH:

Do đâu mà tôi muốn chỉ rõ cho các bạn bức tường này. Chắc các bạn cũng đã từng nhớ khi học công dân giáo dục (ở trung học) hoặc kinh tế chính trị (ở đại học) thì ắc hẳn các bạn cũng biết rõ luận điểm của chủ nghĩa Cộng Sản là: “Quốc hữu hóa nền kinh tế quốc dân”. Tức là không có tư hữu, là toàn bộ nền tài chính của quốc gia nằm trong tay nhà nước (vì thế mới tồn tại chữ bao cấp). May thay, ta đã thoát khi chính chủ nghĩa Cộng Sản đã dựng nên bức tường này, và đã tự đưa nó vào dĩ vãng. Hiện nay còn có hiện tượng Đảng viên đi làm kinh tế nữa chứ (nghĩ cũng buồn cười khi từ bỏ chân lỹ của chính mình). Còn Liên Xô, thì đây là bức tường đã đưa Liên Xô vào chỗ chết. Một cái chết được báo trước. Các bạn nên chú ý một điểm là thế này: “Chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam đã cắt đi gần một nữa về nền tảng chủ nghĩa của họ khi họ không còn chấp nhận việc quốc hữu hóa”.

Vậy câu hỏi lại đặt ra: Khi nào Việt Nam có nền kinh tế tự hào với thế giới? Việt Nam phải làm gì? Hãy tự trả lời luôn nhé! Tôi không có khả năng…

+3. Bức tường CÔNG NGHỆ:

Một hiện trạng mà chúng ta cùng nhau chấp nhận đó là việc chính phủ chi tiền cho nghiên cứu gần như không có giá trị và không đáng kể với xu thế phát triển công nghệ của thế giới. Nền văn minh tổng thể của Việt Nam đi sau các nuớc rất nhiều năm. Mới đây thôi, đài truyền hình Việt Nam có đưa một bản tin, nói về việc nhà nước cho người sang Singapore để học cách quy hoạch các khu đổ xe tại Sài Gòn. Đây là một trong những điều nan giải tại Sài Gòn. Nếu các bạn sống ở Sài Gòn các bạn biết rất rõ. Các bạn thử đi vòng trên các con đường chính lớn của Quận 1 như Nguyễn Huệ, Lê Duẫn, Lê Lợi, Lê Hồng Phong… Xe hơi nằm trên lề đường, chưa có các nhà để xe như các nước tiên tiến. Một vấn đề nhỏ như thế mà còn phải học hỏi thì nói gì đến vấn đề lớn hơn thì sao?. Đồng thời tồn tại bức tường Giáo dục và Thông tin thì làm sao đào tạo nhân tài; mà nhân tài là cốt lõi của Khoa học – Công nghệ. Đã thế, vấn đề chảy máu chất xám trở nên trầm trọng hơn bao giờ hết. Vì thế, nhất định, bức tường này hiện hữu và không thể chối cãi bằng bất kỳ một lý do nào khác. Nói chung, toàn cảnh khoa học và công nghệ của Việt Nam tụt hậu rất xa so với thế giới. Và nếu cứ như thế này thì rõ ràng là khó có thể bắt kịp với văn minh nhân loại.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Khi nào khoa học công nghệ ở Việt Nam mới đuổi kịp quốc tế? Làm cách nào để thoát khỏi những vấn đề này? Các bạn cũng phải tự tìm câu hỏi thôi.
Đó là những bức tường tôi có thể cảm nhận. Các bạn có thể cho tôi thấy thêm điều gì nữa không? Một bức tường nào đó vẫn có chẳng hạn?

Sau đây là quan điểm cá nhân của chính tôi, tại sao 3 loại tường này vẫn chưa sụp đổ ở Việt Nam:

+ Vấn đề thứ nhất: Điều cốt lõi đó là ĐCSVN luôn đi theo luận điểm của 3 nhân vật: Hồ Chí Minh, Karl Mark và Lênin.

Kính thưa các bạn trẻ (tôi cũng trẻ thôi – mới 22 tuổi chứ mấy), 3 nhân vật này đã sống cách đây khá lâu so với thời đại chúng tôi rồi. Với 3 con người này thì họ không thể nhìn thấy được toàn bộ thế giới quan họ đang sống, họ không bao giờ bao quát được những vấn đề như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa… Vì thế họ không bao giờ có thể đề ra chủ trương cũng như đường lối trong thời kỳ họ đang sống. Nếu họ làm được điều đó thì chủ nghĩa của họ sẽ mở rộng khắp thế giới (nhiều khi đến cả giải ngân hà nữa chứ). Nhưng thưa các bạn, chủ nghĩa của Mac-Lênin đã sụp đổ ở Nga (cái nôi của chủ nghĩa Cộng Sản). Nó đã sụp đổ để kết thúc thời kỳ Chiến Tranh Lạnh và mở ra thời kỳ của Toàn cầu hóa. Vì thế ĐCSVN bây giờ chỉ còn dựa vào đường lối, và chủ trương của ông Hồ Chí Minh (vì khách quan nên tôi không gọi là Bác Hồ và sẽ không bao giờ dùng hai từ hoa mỹ như thế). Nhưng kính thưa các bạn, Ông HCM đã chết năm 1969. tức là gần 40 năm rồi. Và tôi tin rằng, ông HCM lúc đó cũng chưa bao giờ biết đến cụm từ “Chiến tranh Lạnh” huống chi là thời kỳ của “Toàn cầu hóa”. Nên các bạn cũng dư sức biết rằng không hề có một chủ trương và đường lối nào của ông HCM có thể rập khuôn một cách hiệu quả trong thời kỳ này. Cái thời kỳ mà Friedman ví như là một cuộc đua Marathon, nghĩa là hôm nay bạn thắng một cuộc đua, thì ngày mai bạn sẽ phải tiếp tục đua. Và ngày mai bạn thua dù chỉ trong phần ngàn giây, cũng đồng nghĩa với bạn thua 1 phút, 1 giờ, 1 ngày, 1 năm, v.v… Và chúng ta phải quả quyết rằng: ĐCSVN đừng dựng nên hình ảnh của HCM để nói với toàn dân về bất cứ đường lối nào cả. Đừng giả hiệu như thế! ĐCSVN phải thực tế trong thời đại này. Phải thực tế hóa đường lối. Nếu không biết, nếu không làm được thì hãy mở tai mà lắng nghe Lê Đăng Doanh (người này mới xứng để tôi gọi bằng Bác) và hãy làm theo những gì ông ấy đã vạch ra (vì ông ấy là cố vấn kinh tế cấp cao của Đảng mà) thì mới có thể nghĩ về tương lai.

+ Vấn đề thứ hai: ĐCSVN đã bỏ đi một nửa nền tảng của Chủ Nghĩa Cộng Sản thì phải thực thi dân chủ hóa đất nước mới hợp thời thế. Tức là phải triển khai tự do dân chủ: tự do tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do hoạt động trọng tất cả các lĩnh vực kể cả chính trị… Phải giải phóng các tù nhân chính trị, để họ được lên tiếng nói của mình một cách công khai. Nếu đàn áp tôn giáo tức là theo chủ nghĩa vô thần, mà chủ nghĩa vô thần thì không có lương tri, lương tâm – chính vì thế nên Đảng có thể làm được mọi chuyện, kể cả thảm sát (Mậu Thân), bán nước (Hòang Sa – Trường Sa)… Đảng Cộng Sản đã ký vào hiến chương của Liên Hiệp Quốc, tức là tôn trọng nhân quyền của dân tộc. HCM cũng từng nó về tự do dân chủ hay lắm mà! Đừng chơi trò tự do dân chủ giả hiệu như thế nữa.

Giải quyết được vấn đề này thì chúng ta mới có thể phá tan được bức tường thông tin.

+ Vấn đề thứ ba: ĐCSVN phải thực thi đa nguyên đa đảng. Không duy trì chế độc đảng. Mà độc đảng thì dẫn đến độc tài làm suy thoái đất nước (có một mình mày thì làm gì chẳng được). Vấn đề đa nguyên đa đảng là một xu thế của thế giới trong thế kỷ 21 này. Đảng CS Việt Nam không thể chống lại xu thế này.

+ Vấn đề thứ tư: ĐCSVN ngừng ngay chiến dịch tuyên truyền và mị dân suốt từ năm 1945 cho đến nay. Ngừng ngay những trò bóp méo sự thật của ĐCSVN cũng như những sự thật lịch sử của HCM. Ngừng ngay cái tôi gọi là Chủ Nghĩa Lãnh tụ tức là ca ngợi HCM vượt trên cả sự thật. Ngừng ngay những trò bịp bợm che mắt nhân dân như: bằng khen, anh hùng lao động, gia đình văn hóa rởm, nuôi gà chọi nhằm phô trường một nền giáo dục ảo… Lịch sử của dân tộc không có chỗ đứng cho những thành phần bán nước mà chỉ là quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Tức là loại trừ lịch sử ĐCSVN ra khỏi lịch sử dân tộc. Tuyệt đối sách vở không ca ngợi bất cứ nhân vật nào của Đảng Cộng Sản. Khoảng thời gian thuộc về đế chế này nên để hồi sau. Các ông không thể tán tụng các ông trong thời đại của các ông được. Tất cả những sự thật trần trụi sẽ tự nó tìm được chỗ đứng trong lịch sử. Việc các ông bóp méo sự thật khác nào lừa dối dân tộc. Những gì thuộc về lịch sử sẽ mãi là lịch sử. Chỉ có một điều là số người biết sự thật quá ít vì các ông đang độc quyền nắm giữ đầu não hệ thống thông tin toàn quốc. Đây cũng chính là điểm có lợi cho Đảng Cộng Sản tuyên truyền thành công triệt để.

Bản thân tôi đóng góp 4 vấn đề trên mà Đảng Cộng Sản phải làm (đánh đổ các bức tường Berlin) thì mới có thể sống sót trong thời đại Toàn cầu hóa này. Thời đại mà luôn xoáy xiết như dòng nước lũ đòi hỏi người sống sót phải là vận động viên bơi lội cừ khôi, phải biết dẫy dụa mới có cơ may sống sót. Chống lại các xu thế của Toàn cầu hóa trong thời đại chẳng khác nào đưa mình vào chỗ chết đã được định trước.

Notes: Nếu cần ĐCSVN có thể mượn lộ đồ 9 điểm của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế để giải quyết quốc nạn. Nếu có thể thì mời ông ta cùng tham gia.

Tôi không biết những vấn đề trên có được thẩm thấu vào lẽ sống của các bạn không. Tôi không phải muốn áp đặt tôi cho các bạn, chỉ mong rằng đâu là sự thật, đâu là lẽ phải phải tồn tại. Nếu các bạn bất bình, có lẽ đến đây đã quá đủ vì nếu đọc tiếp, các bạn sẽ trở nên cáu tiết với những luận điểm của tôi.

Đó là bổn phận của ĐCSVN. Nếu ĐCSVN chậm chạp và không chịu lê mông trên cái ghế mục nát của mình thì sinh viên nên làm gì, và làm thế nào? Bản thân là một sinh viên, tôi cũng có những định hướng để đạp đổ những bức tường Berlin như sau (tôi không cho rằng nó đúng, tôi còn chờ sự đóng góp của các bạn trẻ):

1. Trước tiên, sinh viên phải tự xây dựng cho mình một số kiến thức về dân chủ. Phải hiểu rõ ngọn nghành của tự do và dân chủ đúng cách, đúng nghĩa. Tránh những lời xuyên tạc của ĐCSVN vô căn cứ. Vấn đề xuyên tạc nỗi cộm là vụ của Võ Nguyên Giáp. Cọng sản chơi 1 trò hết sức bỉ ổi với một người có công rất lớn cho ĐCSVN. Đó là một ví dụ điển hình mà các bạn nên tìm hiểu.

2. Phải tìm hiểu về truyền thống lâu đời của ông cha ta. Nhất là tìm hiểu về lịch sử dân tộc qua các triều đại . Dùng sức mạnh ý chí để vượt qua sự sợ hãi dưới sự đàn áp vô nhân của ĐCSVN. Hành động thiết thực đó là có thể biểu tình lúc cần thiết với tinh thần sỏi đá. Nếu cần có thể đổ máu (cho nền dân chủ của quốc gia và con em chúng ta mai sau), hy vọng là không nhiều. Nhìn cuộc đỗ vỡ nhẹ nhàng của Liên bang Xô Viết, Roumanie với Ceaucescu,…cũng phần nào giúp anh em phấn chấn. Đừng lo sợ đổ máu. Đó là những giọt máu anh hùng. Thời nào cũng có anh hùng !(Tiến lên).

3. Phải biết chắt lọc thông tin trong cái “lồng” mà chúng ta đang sống để biết đâu là sự thật, đâu là phi sự thật. Cái lồng mà chúng ta không thể bay đâu xa được với sự gò bó về nhiều mặt.

4. Điều quan trọng không thể thiếu đó là tìm hiểu thật rõ gốc gác của Đảng Cộng Sản, những thành tựu cũng như những hậu quả và thất bại của ĐCSVN riêng và Quốc Tế Cộng Sản nói chung. Mà theo tôi nghĩ thì không hề có một thành tựu nào.

5. Xây dựng một tổ chức thanh niên thật vững mạnh về chất lượng hơn là số lượng. Kết hợp những nhóm nhỏ thành những nhóm trung, rồi lớn hơn… Đoàn kết trong lúc này là điều tốt nhất, vì ĐCSVN không thể đánh số đông được. Họ sẽ choáng ngợp trước sự đòan kết. Điển hình ngay tại thời điểm này là cuộc biểu tình của người Công giáo tại tòa Khâm Sứ. Đây là tổ chức có một thể thống nhất. Họ cùng sống trong niềm tin Thiên Chúa của họ và điều đó đã đem lại cho họ sức mạnh mà Cộng Sản phải luôn lo sợ. Chính các bạn cũng vậy. Vì một lý tưởng, vì một niềm tin mà đứng lên.
Nếu các bạn đồng ý với quan điểm của tôi về hình ảnh và hệ quả của những bức tường Berlin là hạn chế:

+ Tự do
+ Văn minh nhân loại
+ Phát triển kinh tế
+ Tiến bộ Khoa học – Công nghệ

Vậy tại sao chúng ta không cùng tìm ra con đường chung để phá vỡ những bức tường ấy?

Một lần nữa, tôi mong các bạn đứng lên vì lý tưởng, vì tồn vong của quốc gia dân tộc và vì một thế giới mới, và một nước Việt Nam không còn chủ nghĩa cộng sản.
Chắc chắn rằng có những thiếu sót và những nhìn nhận nông cạn. Chỉ mong rằng được đóng góp chút gì đó cho tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam (vì tôi là người Việt Nam và đang sống ở Việt Nam) cũng như cùng thế hệ trẻ Việt Nam ý thức lại thế hệ trong lòng dân tộc. Nếu có sai sót mong các bạn chỉ giáo, nhưng đừng đả kích bằng luận điểm của những con người Cộng Sản lỗi thời.

Một lần nữa xin cám ơn các bạn đã cùng theo dòng suy nghĩ của tôi. Kính chúc các bạn một năm mới tràn đầy trí lực, sinh lực của tuổi trẻ, một năm mới an khang thịnh vượng.

Thân chào.
Thằng ăn mày

Tháng Hai 14, 2008

Những nhà độc tài chân đất sét

Marcus Gee – Nguyên Trường dịch

Những vụ lộn xộn ở Pakistan một lần nữa lật tẩy huyền thoại về hiệu quả của các chế độ độc tài.

Trong đáy sâu tâm hồn, ai cũng muốn có một nhà độc tài. Một người có thể sửa chữa tất cả những rắc rối mà các chính trị gia đã bày ra. Một người có thể trừng phạt tất cả bọn lừa đảo và trộm cắp. Một người có thể chấm dứt tất cả thủ tục quan liêu, phiền toái. Một Caesar. Một sa hoàng chân chính. Một kị sĩ trên lưng ngựa.

Ngay trong các xã hội dân chủ hiện đại người ta vẫn tỏ lòng thán phục hiệu quả của các lãnh tụ độc tài. Dưới thời Mussolini tàu hoả đã chạy đúng giờ, có phải thế không? Còn Hitler thì đã buộc người Đức làm việc. Có thể đấy là những tên quỉ dữ, chúng ta tự nhủ như thế, nhưng dưới quyền họ mọi việc đã chạy ro ro.

Vladimir Putin, dù có nhiều khiếm khuyết, đã xốc lại nước Nga một cách nhanh chóng, điều mà một người thích nhậu nhẹt như Boris Yeltsin chẳng bao giờ làm được. Hình như các lãnh tụ độc tài Trung Quốc đã xây được những con đường cao tốc chỉ trong một đêm trong khi những nhà dân chủ Ấn Độ mới chỉ bàn (bàn suốt) về việc xây dựng các con đường như thế.

Nhưng nếu nhìn vào sự kiện, ta sẽ thấy rằng những lời tuyên bố về hiệu quả của các lãnh tụ độc tài sẽ rụng như sung. Không những thế, phần lớn bọn họ còn là những kẻ phá hoại khủng khiếp.

Ông Pervez Musharraf của Pakistan đã nắm chặt quyền lực cho đến khi sa thải Chánh án Toà án Tối cao vào mùa xuân năm ngoái, một hành động ngạo mạn quá đáng đã khiến những người Pakistan vốn không thành kiến tức giận và khơi mào cho phong trào dân chủ, đưa đến sự trở về và sau đó là vụ ám sát bà Benazir Bhutto.

Saddam Hussein quỉ quyệt của Iraq hoá ra là một Thanh tra Clouseau [1] của các bạo chúa. Ông ta đã đẩy đất nước vào cuộc chiến vô nghĩa kéo dài đến tám năm với Iran, làm hàng triệu người thiệt mạng; rồi đưa quân xâm lược Kuwait để rồi bị các nước mà ông ta cho rằng sẽ không đứng về phía nạn nhân tống khứ, sau đó ông ta cố tình che giấu việc mình không có vũ khí giết người hàng loạt – nếu ông ta nói thật thì đã không có cuộc xâm lăng nhằm tước đoạt quyền lực của ông ta và cuối cùng tước đoạt luôn mạng sống của ông ta.

Các chế độ độc tài không chỉ thường xuyên mắc phải những sai lầm chết người – thí dụ như cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng hay cuộc tấn công Liên Xô của Hitler –, mà lãnh tụ của chúng còn không có khả năng thực hiện công việc lãnh đạo hàng ngày nữa. Dưới thời Mussolini tầu hoả có chạy đúng giờ hay không còn là vấn đề tranh cãi (một số nhà sử học cho rằng việc hiện đại hoá ngành đường sắt là công của các chính phủ dân chủ trước đó). Không nghi ngờ gì rằng đa phần những lời tuyên bố huênh hoang của ông ta về sự tiến bộ của nước Ý phát-xít chỉ là những lời nói khoác. “Trên thực tế, đằng sau màn hiện đại hoá và đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, hàng triệu người Ý vẫn sống trong cảnh khốn cùng của thời tiền sử, phần lớn các vấn đề căn bản của đất nước đã bị bỏ mặc, chẳng ai ngó ngàng tới”, Luigi Barzini, một nhà báo lớn sau này đã viết như thế.

Cả hữu lẫn tả đều vớ vẩn

Nước Đức của Hitler cũng chẳng khác gì. Đằng sau cái vẻ hiệu quả của giới quân nhân, là sự rối loạn của Đế chế Thứ ba. Hitler, một người rất coi thường bộ máy quan liêu, nhưng lại tin tưởng tuyệt đối vào ý chí cá nhân, đã gạt sang một bên bộ máy nhà nước và đưa những kẻ được ông ta sủng ái như Hermann Göring lên nắm các chức vụ quan trọng trong lĩnh vực kinh tế và chính trị. Kết quả là một loạt các trung tâm quyền lực cạnh tranh với nhau xuất hiện và thường xuyên ngáng chân nhau. Nhìn bề ngoài thì đấy là một nhà nước có tổ chức tập quyền cao, dưới sự lãnh đạo của một lãnh tụ duy nhất, đầy quyền lực, nhưng trên thực tế lại là hình thức “vô chính phủ độc đoán”.

Đấy là một phần lí do vì sao nước Đức không thể xây dựng được một cơ cấu kinh tế hữu hiệu, đáp ứng được nhu cầu của một cuộc chiến tranh kéo dài. Trong khi đó, các nền dân chủ được coi là yếu kém và thiếu tổ chức như Anh và Mĩ lại tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế hiệu quả hơn, đủ sức bảo đảm cho một cuộc xung đột trường kì.

Các chế độ toàn trị theo đường lối tả khuynh cũng vụng về không kém, nếu không muốn nói là vụng về hơn. Liên Xô, trong những năm đầu tiên, có vẻ như là một thần kì kinh tế; nhiều nhà máy, đập thủy điện, kênh đào mới được xây dựng, đấy chính là bằng chứng về sự năng động của hệ thống, nơi tất cả các xí nghiệp đều làm theo kế hoạch và được nhà nước kiểm sóat. “Tôi đã nhìn thấy tương lai, nó đang hiện diện tại đây”, Lincoln Steffens, một nhà báo Mĩ đã thốt lên như thế trong một chuyến thăm nước Nga vào những năm 1920.

Nhưng không phải vậy. Khi bị sụp đổi dưới sức nặng của chính nó, hệ thống Xô-viết chỉ để lại những chiếc tàu chiến han gỉ, những công xưởng cũ nát, những ngôi nhà mốc meo và hàng núi chất phế thải độc hại.

Liên Xô là thần kì kinh tế nếu so với nước Trung Hoa của Mao, ông này đã dùng quần chúng để thực hiện những dự án quái gở, thí dụ như những lò luyện gang trong sân từng gia đình. Sự điên rồ đó từng là một phần của chiến dịch Đại Nhảy vọt, dẫn tới một trong những nạn đói kinh hoàng nhất do con người gây ra trong lịch sử hiện đại. Mao còn kêu gọi dân chúng tiêu diệt chim sẻ (được cho là có hại) bằng cách gõ vào nồi niêu, xoong chảo làm cho chim không dám đậu rồi mỏi quá mà lăn ra chết.

Vài ngoại lệ hiếm hoi

Dĩ nhiên là có một số phản thí dụ. Các nhà lãnh đạo quân sự Nam Hàn đã xây dựng được những nền tảng của một cường quốc kinh tế. Tướng Augusto Pinochet của Chile đã thực hiện thành công một chương trình cải cách kinh tế hướng thị trường tự do. Người đàn ông thép Lí Quang Diệu đã xây dựng được Singapore thành một trong những quốc gia được tổ chức hiệu quả nhất châu Á.

Nhưng thường thì chế độ độc tài bao giờ cũng dẫn đến sự trì trệ ảm đạm – thí dụ như Myanmar dưới quyền các quân nhân –, hoặc biến quốc gia thành một đoàn tàu hỏng – thí dụ như Zimbabwe dưới quyền Robert Mugabe – hay một trại tù nghiệt ngã – như Bắc Hàn của lãnh tụ Kim Jong Il. Thế giới Ảrập là thí dụ điển hình về sự thiếu hiệu quả của các lãnh tụ độc tài. Khu vực này cho đến nay vẫn được lãnh đạo bởi một nhúm các ông vua dầu hỏa, các tổng thống trọn đời và giới tăng lữ, và vẫn lẹt đẹt đi sau đa số các khu vực khác về giáo dục, sức mạnh kinh tế và nhiều chỉ tiêu khác.

Độc giả có thể cho rằng sau hơn một thế kỉ chiêm nghiệm sự bất cập về tổng thể, sự yếu kém và sự ngu dốt tuyệt đối thường xuyên của các bạo chúa cả phái tả lẫn phái hữu, thì chúng ta đã học được điều gì đó về bản chất của họ. Nhưng không, ảo tưởng vẫn cứ vững chắc như xưa. Mãi đến năm 1984, chính John Kenneth Galbraith, một nhà kinh tế học nổi tiếng, còn ca ngợi “cuộc sống hạnh phúc và ổn định của những người dân Nga bình thường”.

Huyền thoại về hiệu quả của chế độ độc tài còn sống đến tận hôm nay. Nhiều người Pakistan đã hân hoan chào đón Pervez Musharraf khi ông cướp được chính quyền vào năm 1999, mặc dù rõ ràng là các chế độ quân phiệt trước đây đã kìm hãm sự phát triển của đất nước này. Sau sự kiện 11 tháng 9, Washington cũng vồ vập ông ta không kém. Nhiều người nghĩ rằng ông ta, với khả năng nói tiếng Anh lưu loát và bộ quân phục là phẳng, chính là người có thể lập lại trật tự trong cái đất nước đầy đau khổ này.

Nhiều người tin rằng Vladimir Putin cũng đang làm như thế với nước Nga. Nhưng trên thực tế, như hai khoa học gia Michael McFaul và Kathryn Stoner-Weiss viết trong số ra mới đây của tờ Foreign Affairs [2] , đấy cũng là huyền thoại. Nước Nga rơi vào cảnh hỗn loạn dưới thời Boris Yeltsin không phải vì nó trở thành nước dân chủ mà bởi nó phải hứng chịu hậu quả của việc chế độ cộng sản sụp đổ một cách bất thình lình. Sự phát triển kinh tế hiện nay chủ yếu là do giá dầu tăng chứ không phải là do hiệu quả của “chủ nghĩa Putin”. Dưới thời Putin các chỉ số về khả năng cạnh tranh và điều kiện kinh doanh đều giảm, trong khi mức độ tham nhũng lại gia tăng.

Chúng ta cũng có ảo tưởng tương tự như thế đối với Trung Quốc. Với hàng loạt nhà máy vừa mới xây dựng và những ngôi nhà chọc trời, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã trở thành hiện tượng thần kì thời hiện đại và là minh chứng hùng hồn rằng chế độ độc tài cùng với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có thể sản xuất được đủ loại hàng hóa mà vẫn tránh được tình trạng lộn xộn và ồn ào của chế độ dân chủ. Nhưng chúng ta lại thường bỏ qua nhiều vấn đề nội bộ của đất nước này, từ chuyện lao động du cư, nạn ô nhiễm bất khả kiềm chế cho đến cảnh bần hàn dai dẳng ở các vùng thôn quê. Mỗi ngày ở Trung Quốc đều có khoảng 200 vụ phản đối về đủ mọi lĩnh vực, từ việc bị chiếm đất bất hợp pháp cho đến việc không được trả lương.

Chính phủ Trung Quốc do các nhà kĩ trị và quan chức của Đảng cầm đầu rất thiếu kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp của một nhà nước hiện đại. Khi dịch SARS bắt đầu tấn công thì phản ứng đầu tiên của họ là che giấu. Khi bùng nổ vụ tai tiếng về đồ chơi có chứa chất độc hại thì họ lập tức đưa ra những lời kết tội phương Tây là cố tình bôi nhọ thanh danh của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào trước những vụ khủng hoảng nghiêm trọng hơn, thí dụ suy thoái kinh tế hay xung đột với Đài Loan? Chỉ có trời mới biết. Susan Shirk, một cựu quan chức trong chính quyền Clinton, trong cuốn sách mới đây đã gọi Trung Quốc là Siêu cường Dễ vỡ.

Dân chủ tự ngờ vực chính mình

Chế độ độc tài ổn định là một lời tuyên bố cũng thiếu căn cứ hệt như tuyên bố rằng đấy là chế độ hoạt động có hiệu quả vậy.

Trong mấy chục năm qua, các chính phủ dân chủ đã từng ủng hộ không biết bao nhiêu lần những kẻ độc tài vì cho rằng mặc dù đấy là những kẻ dã man và tham nhũng nhưng họ có thể ngăn chặn được các cuộc cách mạng cũng như tình trạng vô chính phủ.

Đây là một ngộ nhận. Không có các thiết chế độc lập và hệ thống luật pháp làm chỗ dựa cho một chính phủ ổn định, không có kế hoạch cho việc chuyển giao quyền lực thường kì, các chế độ độc tài thường vững chắc như một cái vỏ lạc, rất cứng nếu không bị bóp vỡ.

Chế độ được phương Tây ủng hộ của Suharto ở Indonesia từng có vẻ như là một hình mẫu về sự phát triển ổn định cho đến khi nó sụp đổ trước các vụ bạo động của dân chúng vào cuối những năm 1990.

Tại sao chúng ta lại tiếp tục tin vào hiệu quả của các chế độ độc tài mặc dù tất cả các chứng cớ đều chứng minh ngược lại.

Lí do trước hết là sự thiếu niềm tin vào hệ thống quản lí của chính chúng ta. Chế độ dân chủ đã làm cho hàng trăm triệu người được sống trong tự do, an toàn và thịnh vượng chưa từng có. Thế mà nhiều người đang sống trong chế độ dân chủ vẫn không tin chuyện đó.

Càng ngày càng có nhiều người cho rằng tất cả những kẻ làm chính trị đều là một lũ bất lương hoặc ngu dốt, còn chính trị là một trò bẩn thỉu chỉ cốt kiếm tiền. Càng ngày càng ít người, đặc biệt là giới trẻ, chịu bỏ công đến hòm phiếu.

Ý tưởng về việc xuất khẩu dân chủ sang các nước khác đã gặp thất bại hoàn toàn ở Iraq, còn những người ủng hộ ý tưởng này thì bị coi là những kẻ mộng mơ khờ dại hoặc những môn đồ thiển cận của chủ nghĩa đế quốc mới.

Nếu người Nga thích bàn tay cứng rắn của Putin thì hà cớ gì ta phải làm họ thất vọng? Tại sao các nước khác lại không chọn một chính phủ mạnh, thậm chí là độc tài mà lại chọn chính phủ với hàng loạt những vụ thỏa hiệp và các “gánh xiếc” của chế độ dân chủ hiện đại?

Câu trả lời thật là ngược đời: các gánh xiếc hoạt động tốt. Mặc dù với vẻ bề ngoài lộn xộn, dân chủ là hình thức chính phủ hiệu quả hơn hẳn chính quyền của những kẻ độc tài.

Fareed Zakaria, biên tập viên của tờ Newsweek International, viết trong tác phẩm The Future of Democracy vừa mới xuất bản của ông rằng “chính phủ mạnh khác hẳn với chính phủ hiệu quả, trên thực tế đấy có thể là hai hiện tượng trái ngược nhau”.

Mất liên hệ với quần chúng, các lãnh tụ độc tài thường không nhìn thấy các khó khăn đã lấp ló ngay trên bề mặt. Ngược lại, chế độ dân chủ có thể lường trước được vấn đề và thành lập ra các kiên minh để giải quyết.

Nói một cách ngắn gọn, dân chủ hiệu quả hơn.

Có thể nhiều người trong các nước dân chủ cho rằng đây là một điều đáng ngờ. Nếu họ tin vào dân chủ thì đấy chủ yếu là vấn đề đạo đức chứ không phải là hiệu quả. Họ cho rằng dân chủ có thể là công chính hơn, trung thực hơn, nhưng hiệu quả? Chắc chắn là không rồi.

Sử sách đã chứng thực như vậy. Tin hay không là tuỳ: chính thể chế dân chủ – chứ không phải chế độ độc tài – đang làm cho tầu hỏa chạy đúng giờ hơn.

Bản tiếng Việt © 2008 talawas



[1]Thanh tra Clouseau: nhân vật trong phim Pink Panther (Người dịch)
[2]Michael McFaul and Kathryn Stoner-Weiss, “The Myth of the Authoritarian Model”, Foreign Affairs, January/February 2008. (Người dịch)

Nguồn: “Those Stumbling Strongmen”, Saturday’s Globe and Mail, January 19, 2008